Thử sức thi vào 10 – THPT Chuyên Sư phạm
Môn Ngữ Văn – Dành cho thí sinh chuyên Văn
Câu 1 (4,0 điểm)
Đôi khi những điều bé nhỏ nhất lại chiếm nhiều chỗ nhất trong tim chúng ta.
Viết một bài văn chia sẻ suy nghĩ của em về ý kiến trên.
Câu 2 (6,0 điểm)
Cảm nhận về bài thơ sau:
Người lái thuyền
Thuyền của người Ma-đơ-hu thả neo xuống biển Ra-giơ-ru,
chở đầy những cây đay vô dụng,
nằm im lìm biếng lười đã bao ngày.
Nếu ông ấy cho con mượn thuyền,
Tham khảo: Sách Chuyên đề lý luận văn học
Con sẽ làm thêm trăm cái chèo
Và dựng lên năm, sáu hoặc bảy cánh buồm.
Con sẽ không bao giờ chèo thuyền đến những cái chợ ngớ ngẩn.
Con sẽ giong buồm đi khắp
Bảy biển mười ba sống của xứ sở thần tiên.
Nhưng mẹ ơi, mẹ đừng sụt sùi khóc lóc
Trong xó tối cô đơn,
Con cũng không dại vào rừng sâu
biền biệt mười bốn năm trời như chàng Ra-ma*
Con sẽ về trở thành hoàng tử trong truyện kể,
và trên thuyền con sẽ chở đầy những thứ mình yêu thích.
Con sẽ đem bạn A-su cùng đi,
Chúng con vui sướng giong buồm vượt qua
bảy biển mười ba sông của xứ sở thần tiên.
Chúng con sẽ kéo buồm lên trong ánh sáng bình minh.
Buổi trưa lúc mẹ tắm trong ao,
Chúng con đã vào xứ sở của vị vua lạ.
Chúng con sẽ chèo thuyền qua con sông cạn Ti-pu-giơ-ni*
Và bỏ lại đằng sau sa mạc To-pan-ta*.
Khi thuyền trở về trời đã xẩm tối,
và sẽ kể mẹ nghe những điều trông thấy.
Con đã vượt qua bảy biển mười ba sông của xứ sở thần tiên.
(Ra-bin-đờ-ra-nát Ta-go, trích R. Ta-go – Tuyển tập tác phẩm,
Lưu Đức Trung tuyển chọn và giới thiệu, tập II,
NXB Lao động – TTNNVH Đông Tây, 2004, tr. 650-651)
* Ra-ma: nhân vật hoàng tử tài đức trong sử thi Ra-ma-ya-na của người Ấn Độ, lẽ ra chàng sẽ được kế vị nhưng rồi bị đày 14 năm vào rừng sâu.
* Sông cạn Ti-pu-giơ-ni, sa mạc To-pan-ta: địa danh tưởng tượng trong các câu chuyện cổ.
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
Câu 1: Người viết cần biết tạo lập văn bản nghị luận xã hội, vận dụng tốt các thao tác lập luận; tổ chức bố cục bài viết mạch lạc, chặt chẽ; không mắc lỗi diễn đạt, chính tả, ngữ pháp. Người viết có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau, nhưng cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
1. Giải thích:
– “Những điều bé nhỏ” trong đời sống là những thứ nhỏ nhặt, dễ bị bỏ qua, có thể là cử chỉ quan tâm, yêu thương giản dị; một kỉ niệm, một đồ vật,…; một niềm vui hay nỗi buồn nho nhỏ…
– Ý kiến trên dùng cách diễn đạt tương phản: “những điều bé nhỏ nhất” và “chiếm nhiều chỗ nhất” để khẳng định vai trò quan trọng của “những điều bé nhỏ” trong đời sống con người: có ý nghĩa trong cuộc sống mỗi người, nó để lại nhiều dấu ấn, kỉ niệm, là những điều ta trân trọng, yêu quý và có khả năng tác động đến cuộc sống của chúng ta, dễ làm ta xúc động, ghi nhớ.
2. Phân tích, bình luận:
– Những điều bé nhỏ dễ bị bỏ qua trong đời sống, vì ít được nhận thấy, công nhận. Càng là điều bé nhỏ, ta lại càng dễ coi đó là điều hiển nhiên, vụn vặt và càng ít chú ý.
– Tuy nhiên, những điều bé nhỏ nhất lại là nền tảng dựng xây cuộc sống của con người và có khả năng đi sâu vào tâm hồn bởi:
- Những điều bé nhỏ tồn tại ở khắp mọi ngóc cách trong đời sống còn những điều lớn lao vốn không phải lúc nào cũng ở đó, đôi khi phải nhọc lòng mới đạt được. Bởi vậy, khi chú tâm, chúng ta có thể phát hiện và nhận ra vẻ đẹp của những điều bé nhỏ.
- Những điều bé nhỏ là nền tảng gây dựng những điều lớn lao hơn. Một hành trình vạn dặm cũng được xây cất từ bước chân nhỏ bé ban đầu.
- Những điều bé nhỏ xuất phát từ sự quan tâm, yêu thương có khả năng làm con người xúc động hơn, bởi chỉ có những người thật sự quan tâm, yêu thương thì mới có khả năng để ý, nhận thấy những điều nhỏ nhặt của chúng ta.
– Những điều bé nhỏ cũng chính là thứ có nguy cơ gây ra đổ vỡ lớn nhất. Một bất đồng, một nỗi buồn dù nhỏ nhưng nếu không được đối diện và giải quyết thấu đáo thì cũng có khả năng “đọng lại” trong trái tim, càng ngày càng chiếm nhiều chỗ và khiến con người cảm thấy vướng mắc, nặng lòng, từ đó dẫn đến những khúc mắc hay nỗi buồn lớn hơn, thậm chí có thể hủy hoại một mối quan hệ.
– Người viết cần đưa ra các dẫn chứng hay trải nghiệm của bản thân để củng cố lập luận.
3. Bàn luận mở rộng:
– Để những điều bé nhỏ “chiếm nhiều chỗ trong trái tim” thì bản thân chúng ta cũng phải mở lòng đón nhận, đối diện và trân trọng mọi điều ý nghĩa trong cuộc sống, cả niềm vui lẫn nỗi buồn. Nếu giữ thái độ lạnh lùng, hà khắc, đòi hỏi quá nhiều ở đời sống dễ khiến chúng ta bỏ qua nhiều điều nhỏ nhưng quan trọng.
– Ý kiến trên chỉ mang tính tương đối, có những người ôm một nỗi đau lớn cả đời khôn nguôi, có người sống bằng niềm tin mãnh liệu, lớn lao,… Quá chú trọng những chi tiết đôi khi dễ trở thành người tủn mủn, hoặc có thể bỏ qua những vấn đề bao quát. Bởi vậy, chúng ta trân trọng những điều bé nhỏ song cũng không ngừng mơ mộng và vươn tới những điều lớn lao hơn.
Câu 2: Người viết cần thể hiện năng lực cảm thụ một bài thơ, biết tạo lập một văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học. Bố cục rõ ràng, mạch lạc, không mắc lỗi chính tả, dùng từ, đặt câu. Người viết có thể huy động tri thức về thơ và nhà thơ Ta-go để làm sâu sắc cảm nhận của mình về tác phẩm; có thể khai thác bài thơ từ các góc độ khác nhau, song dưới đây là gợi ý một định hướng tiếp cận tác phẩm.
1. Khái quát:
– Ra-bin-dờ-ra-nát Ta-go là nhà thơ của Ấn Độ, người châu Á đầu tiên đoạt giải Nô-ben Văn học. Ta-go sáng tác đa dạng song có một mảng thơ dành riêng cho thiếu nhi. Đó là tập hợp những bài thơ trong sáng, hồn nhiên, thể hiện một tâm hồn nhân hậu và thấu hiểu trẻ thơ.
– Bài thơ Người lái thuyền được lấy trong tập thơ Trăng non – tập thơ thiếu nhi của Ta-go. Bài thơ mượn lời trò chuyện của em bé với mẹ thể hiện ước mơ thú vị, thần tiên của trẻ thơ. Nhan đề Người lái thuyền gợi ra những cuộc viễn du tự do, phóng khoáng. Đó cũng là mơ ước của em bé: trở thành người lái thuyền đi thám hiểm xứ sở thần tiên.
2. Cảm nhận tác phẩm: Bài thơ được xây dựng dựa trên một hình tượng xuyên suốt, đó là hình tượng người lái thuyền – em bé.
– Bố cục: Có thể cảm nhận bài thơ trên bố cục 3 phần dựa trên sự triển khai hình tượng người lái thuyền – em bé.
- 9 dòng thơ đầu: Ước mơ của em bé.
- 14 dòng thơ tiếp: Hành trình thám hiểm của người lái thuyền – em bé.
- 3 dòng thơ cuối: Chuyến trở về của người lái thuyền – em bé.
– Ước mơ của em bé: Ước mơ trở thành người lái thuyền của em bé được khắc họa qua hình ảnh con thuyền tưởng tượng trong tương quan đối lập với thuyền của người Ma-đơ-hu.
- Con thuyền của người Ma-đơ-hu trong trạng thái tĩnh tại, bất động: “thả neo”, “im lìm lười biếng”, chở “những cây đay vô dụng”. Thực ra đó là con thuyền của người lớn với những chuyến buôn bán, lo toan nhưng trong mắt “con” lại bình thường, thậm chí “vô dụng”, “ngớ ngẩn”.
- Trong khi đó, con thuyền trong ước mơ của “con” lại được khắc họa như sau: Các con số “trăm mái chèo”, “năm, sáu hoặc bảy cánh buồm” mang tính ước lệ, gợi ra con thuyền to lớn, có khả năng chinh phục những miền xa. Điểm đến của em bé là “bảy biển mười ba sông của xứ sở thần tiên” – không gian rộng lớn, bay bổng, thần tiên, đối lập với “những cái chợ ngớ ngẩn” là điểm đến của thuyền người Ma-đơ-hu. Với trẻ con, thế giới đáng sống phải là thế giới mơ mộng, lí tưởng, thuyền phải chinh phục những miền xa chứ không phải bị neo vào cuộc sống buôn bán, tính toán.
– Hành trình thám hiểm của người lái thuyền – em bé:
- Không gian viễn du là không gian tưởng tượng trong những câu chuyện thần tiên (“bảy biển mười ba sông của xứ sở thần tiên”, “xứ sở của vị vua lạ”, “con sông cạn Ti-pu-giơ-ni”, “sa mạc To-pan-ta”), đối lập với không gian quê nhà, nơi “xó tối cô đơn” hay “ao” mà mẹ tắm.
- Chuyến đi để “chở đầy những thứ mình yêu thích”, khác với “những cây đay vô dụng” trên thuyền người Ma-đơ-hu. Đó là chuyến đi thu thập những điều mà em bé yêu thích, vì vậy là chuyến đi của niềm vui, hạnh phúc.
- Hành trình thám hiểm không cô đơn vì có người đồng hành là bạn A-su.
- Lời tường thuật: “Chúng con vui sướng giong buồn”, “Chúng con sẽ kéo buồm lên”, “Chúng con đã vào…”, “Chúng con sẽ chèo thuyền qua…” gợi giọng điệu háo hức, vui tươi. Đại từ xưng hô chuyển từ “con” sang “chúng con”, từ lời kể riêng với mẹ chuyển thành mơ ước chung của nhiều đứa trẻ.
- Dù vui với hành trình, em bé vẫn luôn nhớ đến mẹ. Em vừa lo mẹ “sụt sùi khóc lóc” mà trấn an mẹ, vừa đi lại vừa nhớ đến mẹ.
- Hành trình của người lái thuyền – em bé là hành trình khám phá những miền kì thú, đồng hành cùng những người yêu thương để kiếm tìm những điều mình thích thú.
– Chuyến trở về của người lái thuyền – em bé:
- Chuyến hành trình khám phá thế giới kết thúc trong ngày, vào lúc “trời xẩm tối”. Đây là cách tư duy rất quen thuộc, gần với trẻ con: trở về nhà khi trời chuyển tối.
- Không gian kì thú của chuyến viễn du hóa ra không đối lập với không gian quê nhà, cũng không có khả năng níu giữ em bé, mà đích đến cuối cùng vẫn là trở về nhà và “kể mẹ nghe những điều trông thấy”, háo hức chia sẻ với mẹ về hành trình của mình. Chuyến đi của con vì thế cũng sẽ mở rộng cuộc đời mẹ.
- Đi khắp xứ sở thần tiên là ước mơ, nhưng em bé vẫn biết quay trở lại với điều thân thuộc, với mẹ. Từ đó người đọc thấy được tình yêu thương, quyến luyến rất hồn nhiên, chân thành dành cho mẹ.
3. Nhận xét, tổng kết:
– Cả bài thơ là lời thủ thỉ của em bé với mẹ về ước mơ của mình. Chuyến viễn du trên thuyền lớn qua “bảy biển mười ba sông của xứ sở thần tiên” chỉ là tưởng tượng song qua đó, ta thấy được tâm hồn bay bổng, trong sáng, giàu khát vọng của trẻ thơ. Cùng với đó là tâm hồn giàu tình yêu thương dành cho bạn bè và gia đình.
– “Bảy biển mười ba sông của xứ sở thần tiên” là hình ảnh biểu trưng cho vùng đất mới, mời gọi, còn hình ảnh mẹ là đại diện cho những điều thân thuộc, gần gũi, gốc rễ của đời sống. Con người dù có vươn xa đến đâu, khám phá khắp mọi điều đến chừng nào thì cũng cần biết quay trở lại với những gì bình dị. Bài thơ không chỉ thể hiện tình cảm ngây thơ, trìu mến của một đứa con dành cho mẹ mà còn là lời nhắn gửi đến thái đội sống của chúng ta trong cuộc đời này.
– Nghệ thuật:
- Bài thơ được viết theo thể thơ văn xuôi, giàu tính tự sự.
- Hình ảnh thơ bay bổng, lãng mạn, vừa gợi ra thế giới trẻ thơ hồn nhiên vừa mang chiều sâu suy tưởng.
- Bài thơ thể hiện đặc trưng tư duy thơ Ta-go: lối tư duy hướng nội, giàu triết lí song không mất đi vẻ trong trẻo.
Lưu ý: Bài viết cần thể hiện cảm nhận riêng độc đáo, có cảm thụ sắc sảo và sâu sắc.
Nguyễn Thị Hoài Phương
GV Trường THPT Chuyên Đại học Sư phạm, Hà Nội
(Theo báo Văn học và Tuổi trẻ, số 549, tháng 5 năm 2024)
Tham khảo những bài viết liên quan:
Nghị luận Văn học – Bài thi tham khảo Chuyên Văn Ninh Bình
Giải thích nhận định Nghị luận văn học trong đề thi Chuyên Văn 2024 – 2025
Nghị luận xã hội: Đề thi Chuyên Văn Thành phố Hà Nội 2024 – 2025
Nghị luận xã hội: Đề thi Chuyên Vĩnh Phúc 2024 – 2025
Cách mình trở thành thủ khoa ngữ văn khi thi vào chuyên Văn các trường top đầu toàn quốc
Giải thích nhận định trong một số đề thi học sinh giỏi, đề thi Chuyên Văn



