Mới “rục rịch” khởi động năm học, nhiều bạn học sinh đã nhắn tin tâm sự với Thích Văn học – Trạm văn: “Em muốn ghi điểm sáng tạo cho bài văn bằng phần mở bài hoặc kết bài thật đậm chất lí luận, nhưng chưa biết phải viết thế nào cho vừa đúng, vừa hay, vừa sáng tạo…”.
Muốn bài viết có điểm nhấn hơn nhưng lại chưa biết bắt đầu từ đâu, muốn tạo sự khác biệt với những bài văn quen thuộc nhưng lại sợ viết quá tay, thành sáo rỗng… Có lẽ, đây chính là nỗi băn khoăn của không ít bạn khi bắt đầu đưa kiến thức lí luận văn học vào bài văn nghị luận.
Vậy làm thế nào để vận dụng lí luận văn học vào mở bài, kết bài một cách tự nhiên mà vẫn giàu tính học thuật? Cùng Thích Văn học – Trạm văn khám phá ngay “bí quyết” áp dụng trong bài viết này nhé!
Vận dụng kiến thức lí luận văn học về đặc trưng thể loại
Mỗi thể loại văn học đều có những đặc trưng riêng. Với cách này, cần vận dụng linh hoạt kiến thức về đặc trưng thể loại để nhấn mạnh giá trị của tác phẩm.
Ví dụ: Viết bài văn nghị luận phân tích truyện ngắn “Muối của rừng” của Nguyễn Huy Thiệp.
Mở bài:
Truyện ngắn là nghệ thuật của những lát cắt. Từ một khoảnh khắc hữu hạn, nhà văn có thể mở ra cả một thế giới rộng lớn về con người và cuộc đời. Bằng dung lượng cô đọng, sự chọn lọc chi tiết và khả năng dồn nén ý nghĩa, thể loại này thường khiến cái nhỏ bé trở nên giàu sức gợi. “Muối của rừng” của Nguyễn Huy Thiệp là một truyện ngắn như thế. Qua một lát cắt tưởng như bình thường của chuyến đi săn giữa núi rừng, nhà văn đã đặt nhân vật ông Diểu vào một hành trình không chỉ của bước chân mà còn của sự nhận thức. Từ cuộc gặp gỡ với thiên nhiên và những sinh linh bé nhỏ, những ranh giới tưởng như rõ ràng giữa kẻ săn và con mồi, giữa con người và tự nhiên dần bị xóa nhòa, để rồi khơi dậy trong con người khả năng yêu thương, lòng trắc ẩn và sự thức tỉnh trước những giá trị sống vốn bị lãng quên.
Kết bài:
“Muối của rừng” khép lại, nhưng vẻ đẹp của loài hoa tử huyền dường như vẫn tiếp tục nở rộ trong dòng suy ngẫm của người đọc. Từ một lát cắt nhỏ của đời sống, Nguyễn Huy Thiệp đã chạm đến những vấn đề rộng lớn về con người, tự nhiên và cách con người lựa chọn để sống. Đó cũng là sức mạnh riêng của truyện ngắn: không cần kể hết một cuộc đời, chỉ cần nắm bắt một khoảnh khắc có khả năng làm thay đổi cách con người nhìn thế giới, nhà văn đã có thể mở ra cả một chiều sâu nhân sinh. Với “Muối của rừng”, dung lượng ngắn của câu chuyện không làm vơi đi độ lớn của ý nghĩa. Trái lại, chính sự cô đọng đã khiến những câu hỏi về lòng trắc ẩn, sự thức tỉnh và mối quan hệ giữa con người với tự nhiên còn ngân vang rất lâu sau khi trang viết cuối cùng khép lại.
Vận dụng kiến thức lí luận văn học về giá trị của văn học
Giá trị văn học là sản phẩm kết tinh từ quá trình văn học, bao gồm ba giá trị cơ bản: nhận thức – giáo dục – thẩm mỹ. Với cách này, ta cần chỉ ra giá trị mà tác phẩm văn học mang đến cho người đọc.
Ví dụ: Viết bài văn nghị luận phân tích văn bản “Quà muộn” của Nguyên Hương.
Mở bài:
Văn học không chỉ phản ánh đời sống mà còn giúp con người nhận thức sâu hơn về thế giới và chính mình. Qua lăng kính của người nghệ sĩ, những điều quen thuộc của cuộc sống được soi chiếu từ nhiều chiều, để vẻ đẹp được nâng niu, nỗi đau được thấu hiểu và những giá trị nhân văn được đánh thức. Bởi thế, giá trị của một tác phẩm không chỉ nằm ở câu chuyện nó kể, mà còn ở những rung động và suy ngẫm nó gieo vào tâm hồn người đọc. Trong dòng chảy ấy, “Quà muộn” của Nguyên Hương gây ấn tượng bằng một câu chuyện đời thường nhưng giàu ý nghĩa, từ đó mở ra những suy tư về tình yêu thương, sự bao dung và cách con người trân trọng những điều quý giá trong cuộc sống.
Kết bài:
Belinsky quan niệm: “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan, nếu nó không đặt ra những câu hỏi hoặc trả lời những câu hỏi đó”. Mỗi tác phẩm như một nấc thang nâng đỡ bước chân người đọc đi đến phần người, đến những giá trị chân – thiện – mỹ của cuộc sống. Với “Quà muộn”, Nguyên Hương đã không chỉ kể lại một câu chuyện đời thường mà còn gửi gắm trong đó những suy ngẫm sâu sắc về tình yêu thương, sự quan tâm và cách con người gìn giữ những mối quan hệ quý giá quanh mình. Từ một “món quà” đến muộn, tác phẩm gợi nhắc mỗi người biết trân trọng những yêu thương đang hiện hữu, bởi đôi khi điều đáng tiếc nhất không phải là chưa từng được trao nhận, mà là nhận ra giá trị của yêu thương khi đã không còn cơ hội để bù đắp. Chính sự giản dị mà giàu sức lay động ấy đã làm nên ý nghĩa nhân văn bền vững của “Quà muộn” trong lòng người đọc.
Vận dụng kiến thức lí luận văn học về phong cách nghệ thuật
Phong cách nghệ thuật là biểu hiện tài nghệ của người nghệ sĩ. Với cách này, ta cần chỉ ra một vài nét sáng tạo, độc đáo trong phong cách của nhà văn, nhà thơ để khẳng định những đóng góp của họ thông qua tác phẩm.
Ví dụ: Viết bài văn nghị luận 600 chữ phân tích bài thơ “Những chiếc lá” của Nguyễn Đình Thi.
Tham khảo: Sách Chuyên đề lý luận văn học
Mở bài:
Nam Cao đã từng nói: “Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”. Chính sự sáng tạo ấy đã làm nên phong cách nghệ thuật – dấu ấn thẩm mĩ độc đáo, không thể hòa lẫn của mỗi nhà văn, nhà thơ trong hành trình sáng tạo. Đến với thơ Nguyễn Đình Thi, người đọc bắt gặp một tiếng thơ hiện đại, giàu chất trí tuệ mà vẫn tha thiết cảm xúc, luôn khám phá những ý nghĩa lớn lao từ những hình ảnh đời thường. Bài thơ “Những chiếc lá” là một minh chứng tiêu biểu cho phong cách ấy. Từ hình tượng những chiếc lá bình dị, Nguyễn Đình Thi đã gửi gắm những suy tư sâu sắc về giá trị của sự cống hiến, quy luật của sự sống qua đó khẳng định tài năng sáng tạo và bản sắc nghệ thuật riêng của mình.
Kết bài:
Quả thật, như Nam Cao từng khẳng định, văn chương chỉ thực sự có giá trị khi người nghệ sĩ biết “đào sâu, biết tìm tòi” để tạo nên tiếng nói riêng. “Những chiếc lá” là minh chứng cho hành trình sáng tạo ấy của Nguyễn Đình Thi. Từ một hình ảnh quen thuộc, nhà thơ đã mở ra những tầng ý nghĩa về sự cống hiến bằng một lối tư duy thơ giàu trí tuệ nhưng vẫn đằm thắm cảm xúc, giàu chất nội tâm. Đó chính là phong cách nghệ thuật độc đáo đã góp phần làm nên vị trí của Nguyễn Đình Thi trong dòng chảy thơ ca Việt Nam hiện đại.
Vận dụng kiến thức lí luận văn học về tiếp nhận văn học
Tiếp nhận văn học là quá trình người đọc hòa mình vào tác phẩm, rung động và đắm chìm trong thế giới nghệ thuật được dựng lên bằng ngôn ngữ, lắng nghe tiếng nói của tác giả, thưởng thức cái hay, cái đẹp, cái tài nghệ của người sáng tạo. Khi vận dụng kiến thức lí luận về tiếp nhận văn học, ta cần đưa ra những cảm nhận riêng của bản thân về tác phẩm.
Ví dụ: Viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ “Gửi người vợ miền Nam” (Nguyễn Bính)
Mở bài:
Văn bản chỉ thực sự trở thành tác phẩm khi được cộng hưởng trong tâm hồn người đọc. Mỗi lần tiếp nhận một tác phẩm là một lần ta đối thoại với trái tim người nghệ sĩ, được tự vấn và phản tỉnh chính mình. Trong hành trình đối thoại ấy, mỗi thi phẩm lại mở ra một miền cảm xúc riêng. Đọc “Gửi người vợ miền Nam” của Nguyễn Bính, ta nghe trong từng câu thơ một nỗi nhớ khắc khoải, một tình yêu thủy chung vượt qua cách trở của chiến tranh. Từ câu chuyện riêng của đôi lứa thời chiến, tác phẩm mở ra vẻ đẹp thủy chung nghĩa tình, làm nổi bật khát vọng độc lập, mong ước hòa bình của dân tộc ta những ngày bỏng lửa chiến tranh.
Kết bài:
Gấp trang thơ lại, nỗi nhớ vẫn còn ngân lên trong lòng người đọc như một tiếng vọng của yêu thương và đợi chờ. Thời gian có thể lùi xa, chiến tranh đã thuộc về quá khứ, nhưng tình nghĩa vợ chồng son sắt, niềm tin vào ngày đoàn tụ vẫn vẹn nguyên sức lay động trong trái tim độc giả. Chính khả năng đánh thức sự đồng cảm trong lòng người đọc đã giúp “Gửi người vợ miền Nam” vượt khỏi giới hạn của một bài thơ thời chiến để trở thành một tiếng nói nhân văn còn mãi đến muôn đời.
Vận dụng kiến thức lí luận văn học về chức năng của văn học
Văn học có nhiều chức năng. Chức năng của văn học thường biến đổi theo sự vận động của đời sống xã hội. Các chức năng cơ bản của văn học là: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, giao tiếp, dự báo. Với cách này, ta cần đưa ra chức năng của tác phẩm cần bàn luận để khẳng định thêm về sức sống của một tác phẩm nghệ thuật chân chính.
Ví dụ: Viết bài văn nghị luận phân tích văn bản “Áo Tết” của Nguyễn Ngọc Tư.
Mở bài:
Giáo sư Nguyễn Văn Trung từng khẳng định: “Trước một thế gian tan vỡ hoặc có nguy cơ tan vỡ, nhà văn nhặt nhạnh từng mảnh vỡ để tái tạo lại chính nó, đồng thời kích hoạt sợi dây đàn cảm xúc của con người.” Văn học vì thế không chỉ phản ánh hiện thực mà còn gìn giữ những giá trị tốt đẹp đang có nguy cơ phai nhạt, đánh thức trong con người lòng yêu thương và sự đồng cảm. Mang sứ mệnh ấy, “Áo Tết” của Nguyễn Ngọc Tư đã góp nhặt từ một câu chuyện rất đỗi bình dị để dệt nên bức tranh ấm áp của tình bạn, lòng nhân hậu và sự sẻ chia. Chính từ những điều nhỏ bé ấy, tác phẩm khơi dậy những rung động bền sâu về vẻ đẹp của con người.
Kết bài:
Qua câu chuyện về chiếc áo ngày Tết, Nguyễn Ngọc Tư đã gửi đến người đọc một bài học thấm thía về lòng nhân hậu và sự sẻ chia. Bằng giọng văn mộc mạc, giàu chất Nam Bộ, tác phẩm vừa khơi gợi những rung động thẩm mĩ, vừa giúp con người nhận ra rằng giá trị của cuộc sống được bồi đắp từ sự thấu cảm và yêu thương. Lòng tốt hồn nhiên của bé Em dành cho con Bích vì thế trở thành dư âm đẹp nhất của “Áo Tết”, là minh chứng cho sức mạnh của văn chương trong việc nuôi dưỡng lòng nhân ái và kết nối con người.
Vận dụng kiến thức lí luận văn học về mối quan hệ giữa văn học và đời sống
Hiện thực đời sống bao giờ cũng là nguồn cảm hứng mênh mông, bất tận của tâm hồn nghệ sĩ, là nội dung của văn học. Với cách này, ta cần chỉ ra chất liệu hiện thực đóng góp như thế nào đối với tác phẩm văn học ta đang phân tích.
Ví dụ: Viết bài văn nghị luận phân tích truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu
Mở bài:
Trong vở kịch Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng đã nói: “Nghệ thuật mà không gắn liền với đời sống thì nó chỉ là những bông hoa ác mà thôi”. Nam Cao cũng từng tâm niệm: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật chỉ có thể là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than”. Đến với “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu – “người mở đường tinh anh” của nền văn học Việt Nam cũng góp thêm một cái nhìn về vấn đề mối quan hệ giữa nghệ thuật đích thực và hiện thực cuộc sống. Với tác phẩm của mình, ông đã đem đến cho người đọc bài học “trông nhìn và thưởng thức” về cách nhìn nhận cuộc sống đa diện.
Kết bài:
Với “Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn Minh Châu đã chứng minh rằng nghệ thuật chỉ thực sự có ý nghĩa khi bắt nguồn từ đời sống và soi sáng đời sống. Đằng sau bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp là những nghịch lí, những nỗi đau và khát vọng hạnh phúc của con người. Chính sự hòa quyện giữa giá trị hiện thực và chiều sâu nhân bản đã làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm, đồng thời khẳng định quan niệm nghệ thuật vị nhân sinh, nghệ thuật vì đời sống.
Vận dụng kiến thức lí luận văn học về tư chất của người nghệ sĩ
Là người sáng tạo, người nghệ sĩ cần hội tụ những tư chất đặc biệt. Đó là trái tim nhạy cảm, đa cảm, dễ rung động, sự quan sát tinh nhạy, sắc bén… Dựa trên kiến thức đó, ta có thể tạo ra một mở bài hấp dẫn bằng cách chỉ ra những tâm tư, tình cảm của tác giả kí thác trong tác phẩm của mình.
Ví dụ: Viết bài văn nghị luận phân tích bài thơ “Tiếng trẻ học bài” của Vương Trọng
Mở bài:
Chekhov từng khẳng định: “Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà văn nhân đạo từ trong cốt tủy.” Bởi chỉ khi mang trong mình một trái tim giàu yêu thương và biết rung động trước cuộc đời, người nghệ sĩ mới có thể phát hiện, nâng niu những vẻ đẹp bình dị của con người và gửi gắm vào trang viết những giá trị nhân văn bền vững. Với “Tiếng trẻ học bài”, Vương Trọng đã để trái tim ấy cất tiếng. Từ âm thanh quen thuộc của tiếng trẻ ê a học bài, nhà thơ khơi dậy niềm tin vào sức mạnh của tri thức, của thế hệ tương lai cùng khát vọng về một ngày mai tươi sáng của đất nước.
Kết bài:
Từ tiếng trẻ học bài vang lên trong chiến tranh, Vương Trọng đã gửi gắm niềm tin vào con người và tương lai dân tộc. Tác phẩm chính là tấm gương phản chiếu tư chất của một người nghệ sĩ chân chính: một nhà văn với trái tim nhạy cảm, biết lắng nghe được từng nhịp đập bình dị của đời sống với một cái nhìn ăm ắp niềm tin, luôn hướng về ánh sáng. Không cần những lời lẽ đao to búa lớn, chính tình yêu thương cùng sự quan sát tinh tế đã giúp nhà thơ biến một âm thanh đời thường thành biểu tượng bền bỉ của sự sống và khát vọng. “Tiếng trẻ học bài” vì thế không chỉ sống mãi trong lòng người đọc như một bài thơ hay, mà còn là chứng nhân cho sức mạnh của nghệ thuật, nơi trái tim ấm áp của người nghệ sĩ cất tiếng để thắp sáng trái tim của nhân thế, trái tim con người.
Vận dụng kiến thức lí luận văn học về quá trình sáng tạo của nhà văn
Sẽ không có tác phẩm nếu không có nhà văn – chủ thể của quá trình sáng tạo. Nghệ sĩ như những chú ong cần cù kiếm tìm những mảng đề tài, cảm hứng, vốn sống, chắt lọc hiện thực phản ánh vào tác phẩm… Với cách này, ta cần chỉ ra quá trình “lặn ngụp” sâu vào cuộc đời của tác giả để cho ra “đứa con tinh thần” thấm đẫm tư tưởng nhân văn, nhân đạo.
Ví dụ: Viết bài văn nghị luận phân tích “Nhớ đồng” của Tố Hữu
Mở bài:
Để sáng tạo nên một tác phẩm nghệ thuật chân chính có sức sống bền lâu, người nghệ sĩ không chỉ cần tài năng mà còn phải sống hết mình với cuộc đời, biết “lặn ngụp” trong hiện thực để chắt lọc những trải nghiệm thành nghệ thuật. Chính những va đập của số phận, những thử thách của thời đại đã hun đúc nên những trang viết lớn. Với Tố Hữu, những tháng ngày bị giam cầm trong nhà lao Thừa Phủ không chỉ là thử thách của người chiến sĩ cách mạng mà còn là chất liệu sống kết tinh thành thi phẩm “Nhớ đồng”. Từ nỗi nhớ da diết hướng về cánh đồng quê hương, bài thơ cất lên khát vọng tự do cháy bỏng, tình yêu cuộc sống và lí tưởng cách mạng trong một tâm hồn trẻ tuổi luôn hướng về ánh sáng.
Kết bài:
Nhìn lại “Nhớ đồng”, ta càng thấm thía bản chất của quá trình sáng tạo nghệ thuật, hiểu rằng một tác phẩm bất tử chỉ có thể ra đời khi nhà văn chịu “lặn ngụp” đến tận cùng của kiếp người. Từ khoảng không chật hẹp của ngục tù, Tố Hữu như chú ong cần cù gom góp từng hạt mật của nỗi nhớ – nhớ tiếng hò, nhớ xóm thôn, nhớ người bạn đồng chí… để dệt nên một trang thơ thấm đẫm tinh thần nhân đạo và lý tưởng cách mạng. Đó cũng là lúc đời sống được hóa thân thành thơ ca, đưa tiếng nói của một cá nhân thành tiếng nói của cả một thời đại, vượt qua giới hạn thời gian và chạm đến trái tim muôn thế hệ.
Tham khảo các bài viết khác tại đây:
- Tổng hợp các mở bài lí luận cho các tác phẩm lớp 9 học kỳ I
- ÁP DỤNG LÝ LUẬN VĂN HỌC VÀO KẾT BÀI (phần 1)
- ÁP DỤNG LÝ LUẬN VĂN HỌC VÀO KẾT BÀI (phần 2)
Xem thêm:
- Lớp văn cô Ngọc Anh trực tiếp giảng dạy tại Hà Nội: Tìm hiểu thêm
- Tham khảo sách Chuyên đề Lí luận văn học phiên bản 2025: Tủ sách Thích Văn học
- Tham khảo bộ tài liệu độc quyền của Thích Văn học siêu hot: Tài liệu
- Đón xem các bài viết mới nhất trên fanpage FB: Thích Văn Học







