Với phần Viết, các bạn 2k7 sẽ được làm quen với kiểu bài văn nghị luận so sánh, đánh giá hai tác phẩm truyện. Để làm được tốt dạng bài này, đòi hỏi các bạn không chỉ nắm rõ kiến thức về tác phẩm mà còn cần cái nhìn đối sánh dựa trên những cơ sở phù hợp để nhìn ra những điểm giống – khác nhau. Thích Văn học gửi đến bạn bài viết nghị luận mẫu: So sánh chi tiết bát cháo hành trong “Chí Phèo” và chi tiết nồi cháo cám trong “Vợ nhặt”. Cùng tham khảo để có cái nhìn cụ thể hơn về dạng bài Nghị luận này nhé!
Nghị luận văn học: So sánh chi tiết bát cháo hành trong “Chí Phèo” và chi tiết nồi cháo cám trong “Vợ nhặt”.
Bài làm
Nguyễn Minh Châu từng khẳng định “Chỉ cần một số ít trang văn xuôi mà họ có thể làm nổ tung trong tình cảm và ý nghĩ người đọc những điều rất sâu xa và da diết của con người”. Sở dĩ có thể làm được như vậy là bởi tài năng của các nhà văn chân chính trong việc xây dựng những chi tiết nghệ thuật cô đọng nhưng có khả năng khơi gợi những chiều sâu về tư tưởng và tâm tư. Điều này hoàn toàn đúng đối với truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao và “Vợ nhặt” của Kim Lân. Bởi lẽ, hình ảnh “bát cháo hành” trong “Chí Phèo” và “nồi cháo cám” trong “Vợ nhặt” không chỉ là những hình ảnh đời thường mà còn là sự kết tinh của tâm tư, tài năng của hai ngòi bút độc đáo trong việc xây dựng chi tiết nghệ thuật cho tác phẩm của mình.
Khi nhắc đến nhà văn Kim Lân, người ta nhớ ngay đến một ngòi bút thường hướng đến cảnh sinh hoạt làng quê và cuộc sống người dân lao động thời bấy giờ với giọng văn gần gũi và giản dị. Trong đó, Vợ nhặt đã thể hiện trọn vẹn phong cách sáng tác của Kim Lân. Dựa trên cốt truyện từ một phần bản thảo của tiểu thuyết “Xóm ngụ cư” và in trong tập “Con chó xấu xí” (1962), Vợ nhặt không chỉ khắc họa nạn đói thê thảm trước Cách mạng tháng 8 mà còn làm nổi bật sự sống, tình yêu thương luôn hiện hữu nơi người nông dân trong tình cảnh ấy. Còn với Nam Cao, truyện ngắn “Chí Phèo” chính là sự ra đời từ quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh” của nhà văn. Được viết vào năm 1941, “Chí Phèo” đã phản ánh số phận của những người nông dân lương thiên bị đẩy vào con đường của lưu manh và tha hóa. Nhưng với ngòi bút luôn đi tìm những triết lí sâu sắc, Nam Cao đã nhìn thấy vẻ đẹp của lương trị thức tỉnh ở họ dẫu đã bị vùi dập đến mất hết nhân tính.
Trong một tác phẩm truyện, chi tiết là yếu tố nhỏ nhất nhưng lại có khả năng chứa đựng to lớn về cảm xúc và tư tưởng của truyện. Chi tiết càng có sức biểu đạt, tác phẩm càng được nâng cao về mặt giá trị bởi khơi gợi được những suy ngẫm sâu xa trong người đọc. Nam Cao và Kim Lân đều có những nét riêng trong phong cách sáng tác nhưng cả hai nhà văn đều hiểu được tầm quan trọng của chi tiết trong việc tạo dựng một tác phẩm chân chính. Chi tiết bát cháo hành và nồi cháo cám được khắc họa trong “Chí Phèo” và “Vợ nhặt” vì thế chính là sự kết tinh từ bút lực, tâm huyết và giá trị nhân đạo mà hai nhà văn muốn gửi gắm.
Nguyễn Thanh Tú từng khẳng định: “Một tác phẩm được ví như bóng đèn điện thì những chi tiết hay như những sợi dây tóc phát sáng”. Chi tiết bát cháo hành xuất hiện ở giữa truyện nhưng đã trở thành tia sáng ấm áp trong cuộc đời của Chí Phèo. Chí Phèo sau khi uống rượu đã ra bờ sông và cũng chính tại đây, Chí bắt gặp Thị Nở – một người đàn bà xấu ma chê quỷ hơn. Khung cảnh đêm trăng và men say của rượu đã làm nảy nở mối lương duyên đầy đặc biệt giữa Chí Phèo và Thị Nở. Đêm ấy, Chí bị cảm,Thị Nở thương tình và nấu cháo hành mang sang cho Chí. Bát cháo đánh thức dòng suy nghĩ của Chí khi hắn đang lần đầu tiên cảm nhận được những âm thanh thực sự của cuộc sống, khi đang nhớ về khao khát về một cuộc sống thuở xa xăm. Bát cháo hành trở thành một chất xúc tác để Chí thực sự thoát khỏi những cơn say triền miên lúc bấy giờ.
Bát cháo hành đã cho thấy tình yêu thương mà Thị Nở dành cho Chí Phèo, cho hắn lần đầu cảm nhận được hương vị của hạnh phúc. Nhìn thấy bát cháo, Chí từ “ngạc nhiên” mà thấy “mắt mình ươn ướt” bởi trong suy nghĩ của một tên lưu manh, “hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì”. Để có tiền, Chí phải ranh mãnh, hung hãn mà đi cướp bóc, trấn lột của người khác. Làn khói bốc lên từ bát cháo hành khiến hắn “bâng khuâng” rồi cảm thấy “ăn năn” mà suy nghĩ về những tội ác mình đã gây ra. Dường như bát cháo đã gợi dậy trong Chí phần lương tri sâu thẳm nhất, khiến hắn nhận ra con người đâu cần phải “ác” thì mới có được cái ăn. Rồi Chí thấy “cháo mới thơm làm sao”. Bởi cái ngon của bát cháo ấy là sự chăm sóc đầy vụng về của Thị nhưng khiến hắn lần đầu được cảm nhận thế nào là yêu thương. Với nhiều người, bát cháo hành chỉ là thứ nhỏ nhặt nhưng khi đó là bát cháo được nấu bởi bàn tay Thị Nở dành cho Chí Phèo, bát cháo ấy lại mang ý nghĩa cao cả dẫu với Thị, đó “lòng yêu của một người làm ơn”. Đó chính là liều thuốc giải cảm cho Chí Phèo từ suy nghĩ hồn nhiên của Thị “Ðang ốm thế thì chỉ ăn cháo hành”, từ tình thương đầy vô tư, không vụ lợi. Đó đâu phải sự quan tâm đầy toan tính cốt chỉ thỏa mình của bà Ba Bá Kiến khiến hắn “chỉ thấy nhục, chứ yêu đương gì”. Một sự xót xa đầy muộn màng trào dâng trong hắn, rằng “tại sao đến bây giờ hắn mới nếm vị mùi cháo”, đến tận khi hắn đi đến triền dốc bên kia của cuộc đời, hắn mới được cảm nhận hương vị của tình thương thật sự.
Chẳng ai biết bát cháo ấy có ngon không, nhưng ta biết một điều: bát cháo của tình yêu thương ấy đã khơi dậy trong Chí khao khát hạnh phúc, khao khát được trở về với cuộc sống lương thiện. Chí ăn cháo, tay lau mồ hôi, “cười rồi lại ăn”. Dường như lúc này, ta chẳng còn thấy hình dáng của một Chí Phèo chỉ rạch mặt, ăn vạ và cướp bóc. Ta chỉ thấy hiện lên dáng vẻ của một anh nông dân hiền lành, có chăng là nhân tính vốn bị vùi lấp bấy lâu nay được đánh thức bởi tình yêu thương? Chí “muốn làm nũng với thị như với mẹ” và hơn cả, bát cháo hành đã làm sống dậy viễn cảnh về cuộc sống bình yên, hạnh phúc trước kia mà hắn luôn ước ao. Đó là cuộc sống “không còn kinh rượu nhưng cố uống cho thật ít” để “tỉnh táo mà yêu nhau”. Tình yêu thương của Thị chính là sợi dây mang hi vọng dẫu mỏng manh, nối kết Chí với cuộc đời ngoài kia, là cây cầu đưa hắn trở về cuộc sống lương thiện.
Có thể nói, bát cháo hành chính là chi tiết đắt giá thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, khắc họa sâu sắc nét tính cách, tâm lí nhân vật. Bi kịch của Chí cũng được đưa lên tới đỉnh điểm nhờ chi tiết này. Khi Thị bỏ về sau những lời nói cay nghiệt của bà cô, Chí tuyệt vọng khi cơ hội quay trở lại cuộc sống lương thiện không còn. Hắn uống rượu nhưng chỉ ngửi thấy “hơi cháo hành” – hương vị của tình người khiến hắn quyết định đâm Bá Kiến và tự kết liễu chính mình để bảo toàn sự lương thiện. Đặc biệt, chi tiết còn cho thấy chiều sâu tư tưởng mà Nam Cao muốn gửi gắm: tình người luôn có sức mạnh cảm hóa to lớn, có thể vực dậy con người khỏi những u ám của cuộc đời, khiến cho những vẻ đẹp dù có bị vùi lấp cũng có thể bùng lên mạnh mẽ.
Còn trong “Vợ nhặt”, hình ảnh nồi cháo cám là chi tiết xuất hiện ở gần cuối truyện, là một phần của “bữa cơm” đầu tiên chào đón nàng dâu mới của gia đình bà cụ Tứ. Giữa nạn đói đầy cực khổ lúc bấy giờ, bữa cơm đón dâu đáng nhẽ phải tươm tất lại chỉ có thể là niêu cháo loãng, nồi cháo cám đắng ngắt. Thế mới thấy, nạn đói 1945 đã đẩy biết bao người nông dân vào tình cảnh khốn cùng – khi thứ thức ăn vốn không phải dành cho con người lại là món ăn giúp cả gia đình lấp đi cơn đói.
Tham khảo: Sách Chuyên đề lý luận văn học
Thế nhưng, khi với Kim Lân “có tình người là có cuộc sống”, ngòi bút của nhà văn không để nồi cháo cám chỉ đơn thuần là một chi tiết tả thực. Qua đây, ta thấy hiện lên hình ảnh bà cụ Tứ giàu tình thương và niềm lạc quan, hi vọng. Bà cụ Tứ “vừa khuấy vừa cười”: “Chè khoán đây, ngon đáo để cơ”. Bà dường như muốn truyền sự tích cực cho các con mà gọi cháo cám là “chè khoán” một cách đầy vui vẻ. Cái “ngon” khi ấy không phải cái ngon thuộc về vị giác bởi đó là những miếng cháo cám khiến Tràng và Thị ăn xong đều thấy “đắng chát và nghẹn bứ trong cổ”. Thế nhưng, cả hai vẫn “điềm nhiên và vào miệng” mà không một chút ngập ngừng, do dự. Có chăng, Tràng và Thị đều hiểu rằng: đó là cái “ngon” từ dư vị yêu thương của một người mẹ đã dùng hết sức mình để nấu cho các con có một bữa ăn no, là tình thân đầy cao cả vẫn luôn hiện hữu trong bà cụ Tứ. Chính vì tình yêu thương ẩn chứa nơi nồi cháo mà Thị dẫu ngạc nhiên nhưng vẫn và vào miệng mà không một lời chê bài. Thị sẵn sàng đồng hành cùng Tràng và bà cụ Tứ để vượt qua những năm tháng phía trước, bởi Thị hiểu: luôn có tình thương đi cùng. Kim Lân – từ chi tiết bát cháo cám đã mang đến một giá trị nhân văn sâu sắc cho tác phẩm của mình khi vẽ nên bức tranh của tình người trong nạn đói, của niềm hi vọng vẫn luôn sáng ngời trong những mịt mờ của cuộc sống.
Bằng chi tiết đầy đặc sắc này, Kim Lân đã len lỏi sâu vào tâm hồn, tính cách của nhân vật. Từ đó, người đọc nhìn thấy được vẻ đẹp của tình yêu thương, của niềm hi vọng và lạc quan mà bà cụ Tứ dành cho các con, dành cho cuộc đời. Từ chi tiết này, Kim Lân cho thấy tài năng trong việc miêu tả vô cùng tự nhiên tâm lí nhân vật.
Có thể thấy, cả chi tiết bát cháo hành và nồi cháo cám đều cho thấy vẻ đẹp của tình người luôn hiện diện và mang sức mạnh to lớn dù hoàn cảnh có tăm tối và khắc nghiệt đến đâu. Tình yêu thương khiến một tên lưu manh bỗng khao khát được làm người lương thiện, tình yêu thương chiếu sáng niềm hi vọng trong cảnh đói dai dẳng. Qua hai hình ảnh này, hai nhà văn đã phơi bày hiện thực đương thời, số phận đau đớn của nhân vật. Chí Phèo vẫn luôn ở trong cơn say triền miên, quyền làm người trước giờ luôn bị cự tuyệt. Chỉ tới khi ăn bát cháo hành, lần đầu tiên Chí mới được cho ăn mà không phải đi cướp giật của người khác. Tương tự, trong “Vợ nhặt”, con người dường như bị “vật hóa” khi một nồi cháo cám cũng đủ để làm nên bữa cơm gia đình. Niềm vui của bà cụ Tứ cũng chỉ là niềm vui mong manh, đầy le lói bởi ai biết nạn đói dai dẳng ấy sẽ kéo dài trong bao lâu? Tuy nhiên, đằng sau những bi kịch đó, ta vẫn cảm nhận được tấm lòng nhân đạo sâu sắc của cả hai nhà văn khi cả Nam Cao và Kim Lân đều bày tỏ niềm tin vào sức mạnh của tình yêu thương con người, vào những giá trị tốt đẹp luôn ẩn sâu trong mỗi con người bất kể họ sống trong hoàn cảnh nào.
Tuy nhiên, bát cháo hành và nồi cháo cám đều có những nét khác nhất định. Qua bát cháo hành, Nam Cao đã phơi bày một thực tế nghiệt ngã: tình thương của thị Nở dành cho Chí Phèo là một hạt mầm hi vọng giữa xã hội đầy rẫy bất công nhưng lại rất mong manh. Tưởng như đã chạm tay được ngưỡng cửa của hạnh phúc Chí Phèo đã bị đẩy vào bước đường cùng, tình yêu, niềm hi vọng được trở lại cuộc sống lương thiện cũng bị cự tuyệt. Bát cháo hành trở thành biểu tượng cho sự yếu thế của tình người trước bộ mặt tàn bạo, vô nhân tính của xã hội thực dân nửa phong kiến. “Ai cho tao lương thiện?” – câu hỏi đầy đau đớn ấy vẫn bị bỏ ngỏ và ta vẫn thấy một cái nhìn đau đáu trước thực tại bế tắc của của Nam Cao. Bởi, tình thương ấy dù chân thành nhưng sức mạnh của nó – làm sao đủ để dìu dắt con người chiến thắng sự bất công của xã hội bấy giờ?
Trái ngược với bát cháo hành, nồi cháo cám trong “Vợ nhặt” lại mang đến một cái nhìn lạc quan, tạo nên sự biến chuyển tích cực trong các nhân vật. Khi không khí bữa ăn trầm lại vì miếng cháo chát đắng nghẹn nơi cổ, tiếng thúc thuế vang lên dồn dập thì bà cụ Tứ đã tiếp thêm động lực, sự lạc quan, niềm hi vọng cho các con bằng nồi cháo cám. Trong tâm trí Tràng lúc ấy, những ý nghĩ về tương lai tươi sáng, về sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp bắt đầu lóe lên với hình ảnh đám người đi trên đê Sộp và là cờ đỏ phấp phới. Kết thúc mở nhưng ta hiểu nồi cháo cám dường như đã đánh thức trong Tràng một khát khao bước đi trên con đường đấu tranh, chiến đấu. Qua đó, Kim Lân thể hiện niềm tin vào sức mạnh của tình người, về sự đổi đời, vào khả năng tự giải phóng của con người.
Sở dĩ có những nét giống nhau ở hai chi tiết là bởi cả hai nhà văn đều là những ngòi bút tâm huyết với đề tài người nông dân trong nạn đói 1945. Họ gặp nhau giữa giao điểm của những người nghệ sĩ chân chính, những “nhà nhân đạo từ trong cốt tủy” (Sê Khốp). Cả hai nhà văn đều mang một cái nhìn hướng đến sự cảm thông, xót xa cho tình cảnh con người; đặc biệt là cái nhìn mang tính khám phá, thấu hiểu về những vẻ đẹp tiềm ẩn bị khuất lấp, vùi dập của họ trong tình cảnh bấy giờ. Thế nhưng, điều làm nên tên tuổi của Nam Cao và Kim Lân là bởi mỗi nhà văn đều mang một phong cách độc đáo, với tâm niệm phải viết “đúng cái tạng riêng của mình” (Nguyên Tuân). Nhưng hơn cả, sự khác nhau có được là do ảnh hưởng của lí tưởng Cách mạng với mỗi nhà văn. Trước Cách mạng tháng tám, Nam Cao cũng từng khẳng định rằng sự vật, hiện tượng trong cuộc sống được ông viết trong trạng thái không biến động, thay đổi. Chi tiết được xây dựng vì thế vẫn còn đó nỗi day dứt, hoài nghi, đôi khi là bế tắc về cuộc sống, số phận của người nông dân. Còn với Kim Lân, lí tưởng của Cách mạng đã soi sáng cho ngòi bút của ông, cho tâm hồn nhà văn hòa nhập với không khí thời đại. Vì thế mà chỉ một chi tiết nhỏ cũng cho thấy một tâm hồn lạc quan, tin tưởng vào tương lai tươi sáng của nhà văn.
“Chi tiết là hạt bụi vàng làm nên tác phẩm”. Pautopxki có lí khi khẳng định như vậy. Bởi lẽ, một chi tiết được coi là đắt giá chỉ khi nó gợi được chiều sâu suy ngẫm và là minh chứng cho tài năng của người nghệ sĩ. Chi tiết bát cháo hành trong “Chí Phèo” của Nam Cao và chi tiết nồi cháo cám trong “Vợ nhặt” của Kim Lân quả thực là những chi tiết như thế. Viết về cái tối tăm của thời đại bấy giờ nhưng cả hai thiên truyện vẫn tỏa sáng theo những cách rất riêng, bởi sự óng ánh của những “bụi vàng” được kết tinh từ tất cả tấm lòng, tâm tư chung trước cuộc đời và nét tài hoa, độc đáo của hai nhà văn.
Tham khảo những bài viết liên quan:
Nghị luận văn học: Những nội dung cố định khi phân tích nhân vật Người lái đò
Các cách mở rộng, nâng cao vấn đề trong bài Nghị luận văn học
Nghị luận văn học: Ngọn lửa tình người trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của nhà văn Kim Lân
Xem thêm:
- Lớp văn cô Ngọc Anh trực tiếp giảng dạy tại Hà Nội: Tìm hiểu thêm
- Tham khảo sách Chuyên đề Lí luận văn học phiên bản 2025: Tủ sách Thích Văn học
- Tham khảo bộ tài liệu độc quyền của Thích Văn học siêu hot: Tài liệu
- Đón xem các bài viết mới nhất trên fanpage FB: Thích Văn Học



