Trong kho tàng văn chương của nước ta, Nguyễn Trãi là một tác gia lớn, được đánh giá là người có công đầu tiên trong việc “xây dựng một lối thơ Việt Nam” (Đặng Thai Mai). Nguyễn Trãi sắc sảo trong văn chính luận, điêu luyện trong thơ chữ Hán, và đặc biệt đã đạt đến đỉnh cao trong thơ chữ Nôm.
Hôm nay, hãy cùng Thích Văn Học tìm hiểu về thơ Nôm đường luật của tác gia Nguyễn Trãi qua một số bài thơ nhé!
Những nét chung về tác gia Nguyễn Trãi
– Vị trí:
- Nguyễn Trãi là anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, nhà tư tưởng lớn với những cống hiến trên nhiều phương diện: chính trị, triết học, quân sự,.. Ông có đóng góp quan trọng trong việc xây dựng nền văn học Đại Việt sau thời gian nước ta bị quân xâm lược nhà Minh đô hộ.
- Nội dung thơ văn, tư tưởng chủ đạo: tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với yêu nước thương dân, tình yêu thiên nhiên và những ưu tư về thế sự.
- Đặc điểm nghệ thuật: Trong thơ chữ Nôm, Nguyễn Trãi dường như có ý thức sáng tạo một thể thơ riêng với những câu thơ thất ngôn xen vào bài thơ lục ngôn; ông cũng nỗ lực Việt hóa nhiều đề tài, thi liệu mượn từ Trung Quốc; đồng thời sử dụng ngôn ngữ giản dị, đậm đà tính dân tộc.
Ví dụ: Phân tích bài thơ “Cây chuối”
“Tự bén hơi xuân tốt lại thêm,
Đầy buồng lạ, màu thâu đêm.
Tình thư một bức phong còn kín,
Gió nơi đâu, gượng mở xem.”
(Trích “Quốc âm thi tập”, Nguyễn Trãi)
– Câu thơ “Tự bén hơi xuân tốt lại thêm”:
- Chữ “tự” cho thấy sức sống mãnh liệt, dạt dào của sự vật. Chữ “bén” gợi lên sự gặp gỡ, hòa quyện, gắn bó tha thiết (bén lửa, bén duyên, bén tình,..)
- Đảo ngữ “tốt lại thêm”: Ý chỉ cây chuối “từ lúc bén hơi xuân thì tốt thêm” (Xuân Diệu).
– Câu thơ “Đầy buồng lạ, màu thâu đêm”:
Tham khảo: Sách Chuyên đề lý luận văn học
- Cụm từ “đầy buồng lạ” là một hình ảnh thơ đa nghĩa: Buồng ở đây có thể là buồng chuối trĩu quả, nhiều trái; Buồng cũng có thể là nơi buồng ở của các thiếu nữ.
- Màu thâu đêm: Mùi hương của buồng chuối trĩu quả tỏa ngát trong không gian đêm khuya. Khi hiểu buồng lạ là buồng ở của các khuê nữ, màu thâu đêm có thể là tình ý đong đầy, nồng nàn trong đêm.
– Câu thơ “tình thư một bức phong còn kín”:
- Câu thơ gợi tả hình ảnh những đọt lá chuối non cuộn lại tựa như một bức phong thư còn kín. Cũng có thể, đây là một bức thư tình kín đáo, gửi gắm khát vọng tình yêu thầm kín.
– Câu thơ “gió nơi đâu gượng mở xem”:
- “Gượng” là gượng nhẹ, cốt chỉ hành động rất khẽ khàng. Gió được nhân hóa, biết mở phong thư lạ. Khi hiểu rằng đọt chuối là bức thư tình còn đang chớm nở thì hành động “gượng mở xem” thể hiện khao khát tình yêu, mong ước hạnh phúc mãnh liệt kín đáo của tác giả.
Nhận xét chung
– Nội dung:
- Cảnh: Hình ảnh cây chuối giản dị mà xanh non mơn mởn, căng đầy sức sống với trữ lượng lai láng, đầy ắp trong không gian mùa xuân nồng nàn.
- Tình: Bài thơ cũng là bức thư đong đầy khát vọng lứa đôi, cho ta thấy một khía cạnh khác rất mực tinh tế của Nguyễn Trãi. Đồng thời, “Cây chuối” cũng làm sáng tỏ tâm hồn nhạy cảm cùng mối duyên kì lạ của ông với nước non.
– Nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, ngôn ngữ thơ đặc sắc, hình ảnh thơ đa nghĩa, giàu sức gợi.
Ví dụ: Phân tích “Bảo kính cảnh giới” (bài 28)
“Nghìn dặm xem mây nhớ quê,
Chẳng chờ cởi ấn gượng xin về.
Một bầu phong nguyệt nhàn tự tại,
Hai chữ công danh biếng vả vê.
Dẫn suối nước đầy cái trúc,
Quẩy trăng túi nặng thẳng hề.
Đã ngoài chưng thế dầu hơn thiệt,
Chẳng quản ai khen chẳng quản chê.”
(Trích “Quốc âm thi tập”, Nguyễn Trãi)
– Hai câu đề:
- “Nghìn dặm xem mây nhớ quê”: “Nghìn dặm” ý chỉ khoảng cách địa lý xa xôi, cách biệt nghìn trùng. Nguyễn Trãi nơi xa, “xem mây”, nhìn quang cảnh xung quanh mà dâng đầy nỗi nhớ quê nhà.
- “Chẳng chờ cởi ấn gượng xin về”: “Gượng” là gắng gượng, không tự nguyện. Bất mãn với thời cuộc và nỗi niềm đau đáu nhớ quê hương, Ức Trai cáo quan về quê ở ẩn. Ấy vậy, ông nhàn thân mà không nhàn tâm, ông vẫn không hoàn toàn gạt bỏ thế sự.
– Hai câu thực:
- Phép đối đã tạo thế đối sánh sâu sắc giữa lối sống tự do tự tại nơi phong nguyệt với chốn quan trường hiểm hách cùng những tranh đấu lợi danh.
- Tâm hồn Ức Trai: Hòa hợp với thiên nhiên, không màng danh lợi, hướng tới cuộc sống thanh nhàn, tự do, lánh đục tìm trong.
– Hai câu luận:
- Miêu tả bức tranh thiên nhiên thanh bình, chất phác với suối nước, cái trúc, ánh trăng. Từ đó, tái hiện cuộc sống chốn thôn quê nhàn nhã, thanh tao, ung dung tự tại của tác giả.
– Hai câu kết:
- “Đã ngoài chưng thế” : Tác giả khẳng định bản thân không còn vướng vào vòng danh lợi, đã rời xa thế tục, rời bỏ công danh, lánh đời, không còn là quan.
- Cấu trúc “Dầu… chẳng quản…chẳng quản” + phép điệp “chẳng quản” nhấn mạnh tác giả khước từ mọi lời đàm tiếu, khen chê của thiên hạ. Thực chất là thái độ siêu thoát thế sự, xuất thế, cách biệt với “thói đời”, an hưởng triết lý sống “nhàn”.
Nhận xét chung:
– Nội dung:
- Cảnh: Khung cảnh thiên nhiên bình dị, thân thuộc. Từ đó, ta thấy được lối sống ung dung, tự tại, thư thái của tác giả.
- Vẻ đẹp tâm hồn Nguyễn Trãi: Vẻ đẹp tâm hồn của một thi sĩ, nghệ sĩ nhạy cảm, tinh tế chan hòa cùng thiên nhiên, tâm hồn trong sáng, thư thái với khát vọng thanh cao và tư tưởng triết lý sâu sắc.
– Nghệ thuật: Thể thơ thất ngôn xen lục ngôn, ngôn ngữ thơ giản dị, hình ảnh thơ quen thuộc, gần gũi.
Tham khảo những bài viết liên quan tại đây:
Nhận định về quá trình sáng tác văn học của Nam Cao và áp dụng
Cái tôi tài hoa, uyên bác của Nguyễn Tuân trong tùy bút “Người lái đò sông Đà”
Xem thêm:
- Lớp văn cô Ngọc Anh trực tiếp giảng dạy tại Hà Nội: Tìm hiểu thêm
- Tham khảo sách Chuyên đề Lí luận văn học phiên bản 2025: Tủ sách Thích Văn học
- Tham khảo bộ tài liệu độc quyền của Thích Văn học siêu hot: Tài liệu
- Đón xem các bài viết mới nhất trên fanpage FB: Thích Văn Học



