mị - con người của khát vọng

MỊ TRONG ĐÊM TÌNH MÙA XUÂN VÀ ĐÊM ĐÔNG CỞI TRÓI CHO A PHỦ

Nhà văn người Nga Lec – môn – tốp từng viết: “Cũng có những đêm không ngủ, mắt rực cháy và thao thức, lòng ngập tràn nhung nhớ, … Khi đó, tôi viết”. Bất kì tác phẩm nghệ thuật chân chính nào cũng bắt nguồn từ một trái tim dạt dào xúc cảm với đời của nhà cầm bút. Để từ trái tim một con người, văn phẩm neo đậu mãi trong lòng người đọc bao thế hệ. Tác phẩm “Vợ chồng A Phủ” là một trong số đó. Ân sâu nghĩa nặng Tô Hoài dành cho mảnh đất, con người Tây Bắc đã được gửi trọn vẹn qua thiên truyện ngắn xuất sắc nhất đời văn của ông. Những trang văn viết về sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị thực sự là những trang viết ấn tượng, đầy xúc động, đặc biệt qua hai đoạn trích: “Bây giờ Mị cũng không nói … váy hoa vắt ở phía trong vách” và “lúc ấy trong nhà đã tối bưng, … thì thào một tiếng “Đi ngay!”…”
Trần Đăng Khoa từng nhận xét, Tô Hoài như “một pho sách sống mà không học giả, viện sĩ nào có thể so sánh được”. Không chỉ là một người có sức sáng tạo dồi dào, ông còn có những hiểu biết sâu rộng về những vùng miền của đất nước sau nhiều chuyến đi thực tế. Tô Hoài đến với mảnh đất Tây Bắc năm 1952 trong chuyến đi theo bộ đội vào giải phóng Tây Bắc, văn nhân cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc để tích lũy vốn sống, để tăng tình cảm gắn bó, để tìm cảm hứng với đồng bào nơi đây. Và từ nơi ấy, “Vợ chồng A Phủ” ra đời. Câu chuyện viết về số phận khổ đau, bất hạnh của những người lao động trước Cách mạng. Nhưng bằng sức sống tiềm tàng, mãnh liệt, họ đã vươn lên để bước sang một trang đời tươi sáng, hạnh phúc. Những trang văn viết về sự trỗi dậy sức sống của Mị trong đêm tình mùa xuân và đêm đông cởi trói cho A Phủ không chỉ thể hiện được sự tài hoa cùng ngòi bút nhân đạo của Tô Hoài mà còn cho ta thấy khát vọng sống mãnh liệt của người lao động nghèo vùng cao.
Trước đó, Tô Hoài đã miêu tả Mị là một cô gái trẻ đẹp, tài hoa, thổi sáo giỏi và có tình yêu tự do, khát vọng hạnh phúc mãnh liệt. Không chỉ có vậy, cô còn là một người con gái hiếu thảo và yêu lao động. Thế nhưng, trớ trêu thay, do nhà nghèo, bố mẹ Mị khi lấy nhau phải vay tiền nhà thống lí Pá Tra, đến tận khi mẹ Mị mất rồi, bố già yếu mà vẫn chưa trả hết nợ. Cô bị bắt về làm con dâu gạt nợ nhà thống lí, làm vợ của A Sử nhưng họ sống với nhau mà không có lòng với nhau. Và từ đây, chuỗi ngày địa ngục của Mị với thân phận con dâu gạt nợ mở ra. Mị không chỉ bị chà đạp về thể xác, mà còn phải chịu biết bao đau đớn về tinh thần. Ngày tháng trôi đi, sức sống tràn đầy của Mị ngày nào, giờ đây dường như đã ngủ yên, thay vào đó là sự lầm lũi, cam chịu. “Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tày ngựa. Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi”. Mị sống mà mà như chỉ tồn tại. Thế nhưng, bằng ngòi bút nhân đạo, trái tim ấm nóng tình người của mình, Tô Hoài đã phát hiện ra: “Ở trong hình ảnh con rùa lùi lũi ấy, còn có một con người”. Sự biến chuyển về tâm lí của nhân vật Mị đã được Tô Hoài miêu tả thành công, từ đó đã làm sáng lên sức sống tiền tàng mãnh liệt của cô trong đêm tình mùa xuân và đêm đông cởi trói cho A Phủ.
Đoạn trích thứ nhất đã khắc họa một cô Mị đang đắm chìm trong hạnh phúc, đang nghĩ về những cuộc chơi xuân, để từ đó có những hành động mà lần đầu xuất hiện kể từ khi cô bước chân vào nhà thống lí. Trạng ngữ chỉ thời gian “bây giờ” nói đến thời điểm hiện tại, khi Mị đang ngược về quá khứ theo men say của rượu và tiếng sáo gọi bạn đi chơi. Trước đó, bằng ngòi bút tả thực cùng sự am hiểu về phong tục tập quán các vùng miền, Tô Hoài đã khắc họa chân thực bức tranh mùa xuân về trên Hồng Ngài với màu sắc rực rỡ, sự no đủ và những hoạt đồng của đồng bào nơi đây. Thế nhưng, trái ngược với bức tranh đầy sức sống đó, cô Mị lại thờ ơ, vô cảm, dường như không quan tâm đén bất kì thứ gì xung quanh. Năm nay, cô lén uống rượu, cô uống “ừng ực từng bát” và như một thói quen, cô đi thẳng vào căn buồng kín mít với một lỗ vuông bé bằng bàn tay của mình. Mị ngồi trên giường, không làm gì cả. Có thể nói, từ khi bước chân vào nhà thống lí, vào căn buồng được coi như thứ ngục thất trần gian này, Mị dường như chỉ tồn tại với một cái xác không hồn, làm việc theo bản năng, chứ không hề có cho mình những xúc cảm riêng. Nhưng đêm nay lại khác, cô ngồi trên giường nhưng lòng cô đi theo men rượu, đi theo tiếng sáo để về với một thời quá khứ tươi đẹp. Mị nhận ra mình còn trẻ, còn nhiều khát vọng: “Mị muốn đi chơi”. Việc nhớ về quá khứ đã làm sống dậy một cô Mị trước khi vào làm dâu nhà thống lí, làm dấy lên sức sống tiềm tàng trong cô. Từ đó, Mị có những hành động của một con người đang thực sự sống, của một cô gái đang độ tuổi tươi đẹp.
“Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, xắn một miếng bỏ thêm vào đèn”. Câu văn mộc mạc, nhịp nhàng và chậm rãi nhưng lại gieo vào lòng người đọc những cảm xúc mới lạ. Không cần đi tìm, Mị một mạch tiến đến góc nhà, thắp lên cây đèn đã lâu chưa được cô ngó ngàng tới. Vậy là cây đèn vẫn luôn ở đó như biết trước rằng, rồi sẽ lại có một ngày nó được thắp sáng lên bởi bàn tay của Mị. Mị biết vị trí của cây đèn rất rõ nhưng tại sao trước đó, cô lại không thắp lên? Đó hẳn là vì sự chai lì, sự vô cảm của Mị với đời, khiến cô không còn quan tâm đến việc căn phòng sáng hay tối nữa. Cho đến hôm nay, khi sức sống căng tràn nơi nơi trái tim Mị, cô “xắn một miếng mỡ” bỏ vào đèn làm bừng sáng cho gian phòng vốn tăm tối. Hành động thắp đèn của Mị không chỉ là thắp sáng căn phòng, mà còn là thắp lên ngọn lửa đang cháy âm ỉ trong lòng cô nữa. Căn phòng giờ đây không còn mang dáng vẻ của ngục thất trần gian, dáng vẻ của “nhà mồ chôn sống” nữa mà nó đã trở thành không gian sống, một không gian thực thụ của con người, dành cho con người. Chỉ bằng một hành động và câu văn nhỏ bé vậy thôi nhưng Tô Hoài đã cho người đọc thấy sức sống tiềm tàng đang trỗi dậy mạnh mẽ bên trong Mị.
Không chỉ qua hành động thắp đèn, sức sống của Mị còn được hiện lên qua hành động “cuốn lại tóc, với lấy cái váy hoa”. Tiếng sáo rập rờn trong đầu như đưa Mị đến gần với những cuộc vui của ngày trước. Khát khao được vui tươi, được đi chơi của Mị dâng trào một cách mãnh liệt hơn bao giờ hết. Cô để ý, chăm chút lại mái tóc thanh xuân của mình, thay một cái váy hoa, chuẩn bị đi chơi. Trái tim cô đang rạo rực với ý nghĩ được đi chơi thì A Sử về. Y cùng với sợi dây trói đã chặn đứng khát vọng của cô. Hạnh phúc bỗng vụt tắt, cô lại trở về thành cô Mị vô cảm, thờ ơ với cuộc đời. Đêm tình mùa xuân khép lại, dù chưa có những hành động bứt phá nhưng có thể thấy, lớp băng phủ quanh trái tim của Mị đã dần xuất hiện vết nứt, chỉ chờ một sự tác động nữa là lớp băng ấy sẽ tan biến. Cô Mị với khát vọng sống mãnh liệt sẽ hoàn toàn phục sinh. Và tác nhân ấy sẽ xuất hiện trong đêm đông cởi trói cho A Phủ.
Chính nhờ giọt nước mắt của A Phủ, trong Mị đã trỗi dậy lòng thương mình, tình thương đồng loại để từ đó có những hành động bất ngờ, táo bạo, tất yếu. “Lúc ấy” là giữa đêm đông khuya khoắt, lạnh lẽo. Dù không gian bên ngoài giá lạnh, nhưng dường như trái tim của Mị lại ấm nóng hơn bao giờ hết. Phải chăng, giọt nước mắt của A Phủ đã chảy vào lòng Mị, làm tan đi cái lạnh giá nơi trái tim cô. Ngọn lửa Mị vẫn ngồi hơ tay mỗi đêm đã lụi tàn, bóng tối bao trùm cả không gian, nuốt chửng Mị. Thế nhưng, thay vì nhóm lửa lại, Mị “rón rén bước lại”, “cắt nút dây mây”, cởi trói cho A Phủ. Hành động của Mị chỉ là “rón rén”, vì đây chỉ là hành động bộc phát, bất ngờ, không có sự chuẩn bị từ trước. Mị “rón rén” vị sợ bị phát hiện, sợ A Sử phát hiện. Nhưng cắt dây trói xong, chính bản thân cô cũng hoảng hốt trước hành động của chính mình. “Mị hốt hoảng, Mị chỉ thì thào được một tiếng “Đi ngay””. Có thể nói, cô hốt hoảng vì cô chưa từng nghĩ, mình lại có thể làm được những hành động như thế này. Trước kia, cô chỉ bằng lòng, yên phận sống một cuộc đời “lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”, sống mà chỉ như là tồn tại. Cô nghĩ rằng, cuộc đời này sống làm người nhà thống lí, chết làm ma nhà thống lí, rồi cũng sẽ có một ngày rũ xương ở cái nơi địa ngục trần gian này thôi, chứ cô chưa bao giờ nghĩ rằng, mình lại có thể quyết liệt đến vậy. Tiếng thì thào của Mị như một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, làm điểm sáng cho đoạn trích này. Trong cả tác phẩm, dù là nhân vật chính, nhưng Mị lại chỉ có đúng ba câu nói: một câu nói với cha và hai câu nói với A Phủ. Và tiếng thì thào “đi ngay” của Mị nói với A Phủ là tiếng nói được cất lên từ đáy lòng Mị sau rất nhiều năm sống câm lặng ở ngôi nhà này. Nhưng cũng từ đó, ta thấy được tình thương người lớn hơn thương thân của Mị, đặc biệt thấy được cả sức sống tiềm tàng nơi cô. Hai tiếng “đi ngay” ấy là lời của Mị nói với A phủ, nhưng dường như cũng là lời nói với chính mình để sau đó, cô cũng chạy đi theo A Phủ. Tô Hoài đã rất tinh tế khi miêu tả dòng chảy tâm lí của nhân vật Mị. Các câu văn ngắn, nhiều dấu phẩy tạo nên giọng văn gấp rút như men theo những chuyển biến tâm lí tinh vi ở Mị. Tác giả dường như đã hóa thân vào nhân vật để lột tả được hết những tâm trạng của Mị trong đêm đông cởi trói cho A Phủ.
Hai đoạn trích đã khắc họa được những nét diễn biến tâm lý phức tạp của Mị trong đêm tình mùa xuân và đêm đông cởi trói cho A Phủ, từ đó người đọc thấy sức sống tiềm tàng ẩn sâu trong con người Mị, trước những cơn gió xúc tác nó lại bùng lên mạnh mẽ. Ở đoạn trích đầu tiên, ta thấy hiện ra một cô Mị còn trẻ, vẫn khao khát được đi chơi, chìm đắm trong cuộc chơi, sức sống trong cô lúc này trỗi dậy mạnh mẽ. Còn ở đoạn trích thứ hai, một cô Mị với tình thương người, tình yêu thương đồng loại (là A Phủ) hiện lên đánh dấu sự trở lại hoàn toàn của Mị. Con người cô quay lại trở lại với những gì đẹp đẽ nhất, căng tràn nhựa sống và khát khao tự do nhất – như những ngày chưa bước chân vào nhà thống lí Pá Tra. Như thế, qua hai đoạn trích trên, ta thấy Mị có những hành động mà trước đây cô chưa từng làm và ngay cả chính cô cũng không không nghĩ rằng mình sẽ làm như vậy. Đó chính là biểu hiện rõ nét nhất của ngọn lửa sức sống tiềm tàng đang bùng cháy trong Mị. Ngọn lửa đó chưa bao giờ bị dập tắt, nó chỉ bị những thế lực tàn ác của thần quyền và cường quyền làm yếu đi, chờ đợi ngày được bùng cháy. Từ đây, ta thấy được thông điệp mà Tô Hoài gửi gắm qua truyện ngắn này: sức sống, khát vọng tự do, hạnh phúc của con người là bất diệt, dẫu có bị các thế lực bóng tối chèn ép, đẩy đến bi kịch đến như thế nào cũng sẽ vẫn âm ỉ cháy, và chắc chắn sẽ có một ngày bùng lên mãnh liệt.
Sự thành công của thiên truyện Vợ chồng A Phủ không chỉ nằm ở nội dung mà còn nằm ở nghệ thuật. Với lối kể chuyện lôi cuốn, các tình tiết được dẫn dắt khéo léo, Tô Hoài dễ dàng đưa người đọc đi men theo dòng chảy tâm lí của nhân vật Mị đầy tự nhiên, không gượng ép. Ngôn ngữ phong phú, giàu sức tạo hình mang đậm màu sắc miền núi cùng hàng loạt các danh từ, động từ mạnh đã góp phần khắc họa tâm trạng của nhân vật Mị. Đặc biệt, lời văn nửa trực tiếp, bút pháp biện chứng tâm hồn tinh tế, điêu luyện đã giúp nhà văn đưa người đọc đến gần hơn với những xúc cảm trong lòng Mị, hòa vào Mị để thấu hiểu, để đồng cảm. Từ đó, làm ngời sáng lên một cô Mị với nội tâm sâu sắc, sức sống tiềm tàng, mãnh liệt và trái tim nhân hậu, giàu yêu thương.
Tô Hoài từng có lần tâm sự về truyện ngắn của mình như thế này: “Nhưng điều kì diệu là dẫu trong cùng cực đến thế, mọi thế lực của tội ác cũng không giết được sức sống con người. Lay lắt đói khổ, nhục nhã, Mị vẫn sống, âm thầm, tiềm tàng, mãnh liệt”. Đọc những lời chia sẻ ấy của Tô Hoài tôi mới thấy rõ hơn cái tình mang nặng của ông với mảnh đất và con người Tây Bắc. Tô Hoài yêu và hiểu nhân vật của mình nên ông đi vào từng dòng tâm trạng, cử chỉ, hành động và lời nói của họ để phát hiện bao hòn ngọc còn ẩn giấu trong tim những kiếp cùng cực ấy. Hai dòng tâm trạng trên của Mị nói riêng và truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói chung đã thể hiện tình yêu thương nhiều khi đến quặn thắt của Tô Hoài. Văn nhân đau từng cơn trước những lần Mị bị đọa đày trong những phận trâu ngựa, trong cơn đòn roi hay nơi ngục thất tinh thần. Ông căm phẫn làm sao trước bon chúa đất miền núi với cường quyền và thần quyền nặng nề bám riết lấy con người không buông, khiến người ta cứ sống kiếp mòn đi, thơ ơ với mọi sự. Nhưng điều người đọc thấy trân quý biết bao ấy là tấm lòng cất công đi tìm hòn than nóng bỏng sau lớp tro tàn ở Mị. Mị với khát vọng sống, khát vọng hạnh phúc mãnh liệt chẳng bao giờ nguôi ngoai. Cũng vì lẽ đó văn nhân muốn mở ra cho nhân vật một con đường giải thoát, muốn đưa cho con người ra ánh sáng tự do. Mị cởi trói cho A Phủ nhưng cô cũng cởi trói cho chính mình. Rồi hai mảnh đời ấy sẽ cuốn vào nhau và tiến tới con đường chân lí – con đường cách mạng. Đọc những dòng văn đẹp ấy của “tấm lòng vàng” tôi mới trăn trở làm sao kiếp người bị vùi vào tăm tối. Nhưng hơn hết tôi biết Tô Hoài muốn nhắn gửi chúng ta, con người dù trong hoàn cảnh nào vẫn ẩn khuất những khát vọng đẹp. Hãy cứu đi, cứu lấy con người khỏi chốn tối tăm khi còn có thể!
Sê – khốp từng nói: “Nhà văn trước hết phải là nhà nhân đạo từ trong cốt tủy”. Nếu không có một trái tim thương người, đồng cảm với những số phận khổ đau, bị các thế lực tàn ác chèn ép, đày đọa, Tô Hoài đã không thể viết nên những trang văn xuất sắc và cảm động như thế. Và nếu không có một ngòi bút nhân đạo, Tô Hoài đã không thể nào phát hiện được sức sống mãnh liệt vẫn luôn ẩn sâu trong Mị cũng như những người dân lao động ở miền dẻo cao Tây Bắc. Một tấm lòng đẹp đã tỏa ngát trong vườn văn Việt Nam, một sức sống đẹp đã nảy nở trong kho tàng văn học dân tộc. Và từ đó một nhà văn cùng những trang viết xuất sắc ra đời. Người ta sẽ khó mà quên những con chữ hồn nhiên tuổi ấu thơ trong vương quốc dế mèn, cũng không thấy được dòng văn đập rộn ràng không khí thời đại trong “Chuyện cũ Hà Nội” hay những trang văn xanh đời trong “Vợ chồng A Phủ”. Dẫu là khi bé thơ hay đã trưởng thành người ta vẫn muốn đến với ông – đi trên con thuyền chở nặng hồn văn Tô Hoài.
___
Bài làm học sinh lớp LLVH và Luyện viết chuyên sâu cùng cô Ngọc Anh. ❤️
Hình ảnh: Hương Lê. ❤️
Vui lòng không repost bài viết!