Đề thi thử sức trước kì thi tốt nghiệp THPT năm 2024
Môn Ngữ văn
(Thời gian làm bài: 120 phút)
1. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích
Rất nhiều người tìm sự an toàn và chắc chắn trong tư duy số đông. Họ nghĩ rằng nếu số đông người đang làm việc gì đó, việc đó chắc chắn phải đúng. Đó phải chăng là một ý tưởng tốt? Nếu mọi người chấp nhận nó, phải chăng đó là biểu tượng cho sự công bằng, liêm chính, lòng từ bi và sự nhạy cảm? Không hẳn. Tư duy số đông cho rằng Trái Đất là tâm điểm của vũ trụ, nhưng Copernicus nghiên cứu các vì sao, những hành tinh và chứng minh một cách khoa học rằng Trái Đất và những hành tinh khác trong Thái Dương hệ của chúng ta quay quanh Mặt Trời. Tư duy số đông cho rằng phẫu thuật không cần những dụng cụ y tế sạch, nhưng Joseph Lister đã nghiên cứu tỉ lệ tử vong cao trong các bệnh viện và giới thiệu biện pháp khử trùng, ngay lập tức cứu được bao nhiêu mạng người. Tư duy số đông cho rằng phụ nữ không nên có quyền bỏ phiếu, tuy nhiên những người như Emmeline Pankhurst và Susan B. Anthony đã đấu tranh giành được quyền đó. Tư duy số đông đưa Hitler lên nắm quyền ở Đức, nhưng đế chế của Hitler đã giết hại hàng triệu người và gần như tàn phá cả châu Âu. Chúng ta luôn cần nhớ rằng có một sự khác biệt lớn giữa sự chấp nhận và trí tuệ. Mọi người có thể nói rằng có sự an toàn trong một số trường hợp tư duy số đông, nhưng nó không phải lúc nào cũng đúng.
(John C.Maxwell, Tôi tư duy, tôi thành đạt, NXB Lao động xã hội, 2012, tr. 130-131)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1: Đoạn trích đã sử dụng thao tác lập luận gì? Hãy đặt tiêu đề cho đoạn trích.
Câu 2: Nêu tác dụng của phép lặp cấu trúc câu “Tư duy số đông…”.
Câu 3: Qua đoạn trích trên, anh/chị hiểu thế nào là “tư duy số đông”?
Tham khảo: Sách Chuyên đề lý luận văn học
Câu 4: Theo anh/chị, chấp nhận “tư duy số đông” có nhược điểm, tai hại như thế nào?
2. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)
Viết đoạn văn ngắn khoảng (200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến: “Chúng ta luôn cần nhớ rằng có một sự khác biệt lớn giữa sự chấp nhận và trí tuệ”, tư duy số đông nhiều khi là lực cản của sự thành công.
Câu 2. (5.0 điểm)
Phân tích nghĩa tình cách mạng được thể hiện qua đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc (Tố Hữu):
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương.
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.
Nhớ từng rừng nứa bờ tre
Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy.
Ta đi ta nhớ những ngày
Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…
(Ngữ văn 12, tập một, NXBGDVN, 2020, tr. 110-111)
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
1. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (0.5 điểm): Đoạn trích đã sử dụng thao tác lập luận bác bỏ để khẳng định tư duy số đông không phải bao giờ cũng đúng, cần biết suy nghĩ, phản biện để tìm ra chân lí.
Có thể đặt tiêu đề cho đoạn trích theo các gợi ý:
- Tư duy số đông có phải bao giờ cũng đúng?
- Chấp nhận hay phản biện trước tư duy số đông?
- Hãy biết cảnh giác trước tư duy số đông?
- Đừng vội chấp nhận tư duy số đông.
Câu 2 (1.0 điểm): Khi bác bỏ, tác giả đoạn trích bốn lần sử dụng cấu trúc câu “Tư duy số đông…, nhưng/tuy nhiên…”. Gắn với các câu đó là các dẫn chứng từ thực tế đầy tính thuyết phục về khoa học, về chính trị xã hội, về lịch sử, là những sự thực đã xảy ra mà giờ đây hầu như ai cũng thấy, cũng biết. Biện pháp điệp cấu trúc này có hiệu quả tạo nhịp điệu cho lời văn, tạo tác động liên tiếp, mạnh mẽ đối với người tiếp nhận. Cách bác bỏ như vậy khiến người đọc, người nghe không thể không thừa nhận những sai lầm của tư duy số đông, thấm thía sức mạnh của trí tuệ khoa học, của sự thật lịch sử.
Câu 3 (0.5 điểm): Đọc đoạn trích này có thể hiểu “tư duy số đông” là những tri thức, nhận thức vốn đã, đang được nhiều người chấp nhận, là sự nhìn nhận, đánh giá của đa số người trong một cộng đồng, một tập thể. Nó cũng có thể là các thói quen, cách lựa chọn, ứng xử, những ràng buộc… dường như đã trở thành hiển nhiên, không cần suy nghĩ lại và không thể làm khác.
Câu 4 (1.0 điểm): Chấp nhận tư duy số đông có nhiều nhược điểm, tai hại:
- Hạn chế những tìm tòi, suy nghĩ cá nhân, mất đi tinh thần phản biện để phê phán, để tìm ra và khẳng định cái mới.
- Bào mòn cá tính, bản sắc, từ đó dễ tạo nên sự khô cứng, đơn điệu của tập thể, cộng đồng.
- Không có những sáng kiến, không còn năng lực sáng tạo để thúc đẩy sự phát triển, dễ thành người bảo thủ.
- Có khi đi theo các lối mòn, làm theo những thói quen không tốt mà mình không biết, vô tình ngăn cản sự tìm tòi, sáng kiến của người khác.
Khẳng định, nếu cứ dễ dàng chấp nhận tư duy số đông thì sẽ không có sự tiến bộ và phát triển, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học.
2. LÀM VĂN
Câu 1 (2.0 điểm): Yêu cầu viết đoạn văn, không cần giới thiệu vấn đề (đã được biết từ phần Đọc hiểu), không dẫn dắt, chứng minh dài dòng, các câu có sự liên kết mạch lạc, chặt chẽ.
- Trước một sự việc, một đối tượng trong cuộc sống, một vấn đề trong khoa học… thường có cách nhìn nhận, ý kiến, đánh giá khác nhau. Chúng ta cần chú ý, cần tôn trọng sự hiểu biết, ý kiến của số đông.
- Nhưng không nên chấp nhận ý kiến, đánh giá của số đông một cách dễ dãi, xuôi chiều. “Có một sự khác biệt lớn giữa sự chấp nhận và trí tuệ” nghĩa là người có trí tuệ là người có chủ kiến, chỉ chấp nhận sau khi suy xét kĩ càng. Người có trí tuệ thường mang tinh thần phản biện, có ý thức tìm tòi, nghiên cứu để có những sáng kiến, sáng tạo. Sự phát triển của lịch sử loài người, của xã hội, của khoa học kĩ thuật… là kết quả của bao tìm tòi, sáng tạo của những con người như thế (có thể nêu gọn vài dẫn chứng). Nếu cứ tư duy theo số đông thì khó có được thành công, khó có được tiến bộ (xem thêm ý “nhược điểm, tai hại của tư duy số đông” ở câu 4 phần Đọc hiểu)
- Ý kiến này như nhắc nhở mỗi chúng ta về một phương châm, một thái độ có ý nghĩa quan trọng trong học tập, trong cuộc sống: Đừng vội chấp nhận những khuôn mẫu, nghĩ và làm theo các thói quen, đừng dễ dàng tán thành, cổ vũ cho đám đông; hãy có chủ kiến, giữ tinh thần phản biện, hãy biết vượt lên các lối mòn để có những tri thức mới, để có những tìm tòi, sáng tạo có ý nghĩa đóng góp cho tập thể, cho xã hội.
Câu 2 (5.0 điểm) Nội dung bài làm có thể triển khai theo các cách khác nhau. Sau đây là gọi ý những ý chính cần có:
1. Mở bài: Giới thiệu bài Việt Bắc và khái quát nội dung cảm xúc của đoạn thơ.
- Nhắc tới Tố Hữu, chúng ta nhớ ngay đến nhà thơ trữ tình chính trị hàng đầu trong nền thơ ca cách mạng Việt Nam thế kỉ XX. Thơ Tố Hữu ngày càng bám sát những nhiệm vụ chính trị, những sự kiện lịch sử trọng đại liên quan đến bước đi, vận mệnh của cả cộng đồng dân tộc, đồng thời đậm đà tính dân tộc trong cả nội dung và hình thức thể hiện. Việt Bắc ghi nhận một thành công xuất sắc trong sự nghiệp thơ ca Tố Hữu, tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của nhà thơ này.
- Ra đời ở một bước ngoặt đáng nhớ của lịch sự dân tộc (tháng 10 – 1954), Việt Bắc trở thành một bản anh hùng ca về cách mạng và kháng chiến, một bản tình ca về đời sống tâm hồn phong phú, cao đẹp của con người Việt Nam. Viết bài thơ này, Tố Hữu đã hóa thân vào người về – kẻ ở, cặp đại từ “mình – ta” trong buổi chia li để tổng kết lịch sử, để tâm tình.
- Nằm trong kết cấu đối đáp, đoạn thơ là lời của người cán bộ sắp về xuôi bộc lộ nỗi nhớ cảnh và người Việt Bắc, nhớ nghĩa tình Cách mạng và kháng chiến.
2. Thân bài
2.1. Nỗi nhớ thiết tha qua câu lục bát đầu đoạn (0.75 điểm)
- Giọng điệu tự hỏi đồng thời thổ lộ, giãi bày (Nhớ gì như nhớ người yêu).
- Nỗi nhớ cảnh và người Việt Bắc, nhớ nghĩa tình Cách mạng và kháng chiến được ví như “nhớ người yêu”. Đó là nỗi nhớ luôn thiết tha, đầy ám ảnh. Tình chung và tình riêng hòa quyện trong cách so sánh, diễn tả của Tố Hữu…
- Tính tạo hình và sức gợi cảm của hình ảnh: “Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương”. Đây là một vẻ đẹp rất đặc trưng của miền rừng núi mà chỉ ai từng chứng kiến, từng gắn bó mới miêu tả được.
2.2. Hình ảnh bản làng, thiên nhiên, con người Việt Bắc qua nỗi nhớ cụ thể ở hai câu lục bát tiếp theo (2.5 điểm)
- Hình ảnh những bản làng Việt Bắc mờ ảo, thấp thoáng trong làn khói, màn sương…
- Những ngôi nhà với bếp lửa sớm khuya: hình ảnh của sự sống bền bỉ, tình cảm ấm áp đậm chất dân tộc. Những bếp lửa ấy lại luôn ấm bóng “người thương đi về”. Đó là những bà mẹ, những người chị, người em gái sớm khuya nhen nhóm và luôn giữ yên bếp lửa.
- Từng rừng nứa bờ tre Việt Bắc đều in dấu kỉ niệm của mình và ta trong qua trình cách mạng và kháng chiến lâu dài, gian khổ và hào hùng. Lời thơ nhắc tới các địa danh cụ thể đã đi vào các trang sử vẻ vang của dân tộc.
- Từ “vơi đầy” vừa miêu tả dòng nước suối Lê vừa gợi chiều dài thời gian, sự biến thiên của lịch sử. Trong suốt quá trình ấy, nghĩa tình mình – ta lúc nào cũng ấm áp, nặng đầy…
- Điệp từ “Nhớ từng” đứng đầu hai câu thơ lục bát tạo nên tính nhịp nhàng của lời thơ. “Nhớ từng” là nỗi nhớ thật chi li, cụ thể… Phải gắn bó, yêu thương sâu nặng đến độ nào thì mới nhớ như thế. Giờ phút này, mọi hình ảnh về thiên nhiên, con người Việt Bắc suốt “mười lăm năm ấy” cứ sống dậy như hiển hiện trong lòng…
2.3. Nghĩa tình mình – ta ở câu lục bát cuối đoạn (0.75 điểm)
- Câu thơ như tổng hơp, khép lại cả quá trình gắn bó sau khi diễn tả những nỗi nhớ cụ thể.
- Cụm từ “Mình đây ta đó” tạo nhịp đối, “đây”, “đó” tuy hai mà thành một cặp đối xứng, gắn bó. Cụm từ “đắng cay ngọt bùi” có tính ẩn dụ diễn tả những gian nan, mất mát và những niềm vui, thắng lợi. Suốt bao tháng năm qua, “mình và ta” đắng cay cùng chia, ngọt bùi cùng hưởng. Những kỉ niệm ấy trở thành nỗi nhớ khôn nguôi ở giờ phút chia li và sẽ được lưu giữ mãi trong lòng.
3. Kết bài (0.5 điểm)
- Đoạn thơ thể hiện ân tình thủy chung với căn cứ địa cách mạng, chiến khu kháng chiến Việt Bắc qua những hình ảnh gợi cảm, giọng điệu trữ tình tha thiết.
- Đoạn thơ giúp cho mỗi người đọc chúng ta thêm hiểu, thêm yêu cảnh và người Việt Bắc, có ý nghĩa nhắc nhở mỗi chúng ta về thái độ, tình cảm đối với quá khứ, cội nguồn.
Lưu ý: Bài viết cần biết kết hợp phân tích nội dung tình cảm và đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ (nhất là cảm nhận sâu về giọng điệu, ngôn từ), viết có cảm xúc, thể hiện sự đồng cảm với nhân vật trữ tình trong đoạn thơ.
PGS.TS. Lê Quang Hưng
(Theo báo Văn học và Tuổi trẻ, số 549, tháng 5 năm 2024)
Tham khảo những bài viết liên quan về đề thi THPTQG:
Giải thích nhận định văn học trong đề thi chuyên 2024-2025
Giải thích nhận định trong một số đề thi học sinh giỏi
Giải thích vấn đề NLXH trong các đề thi vào Chuyên các năm học 2024 – 2025
Bài viết tham khảo đề thi chọn đội tuyển Học sinh giỏi quốc gia môn văn tỉnh Lâm Đồng 2023-2024
Nghị luận xã hội: Đề thi Chuyên Vĩnh Phúc 2024 – 2025
Bài viết Nghị luận xã hội cho đề thi Chuyên Hà Nội năm 2024 – 2025
Đề thi thử sức trước kỳ thi THPTQG 2024 – Ngữ Văn (Đề 1)
Xem thêm:
- Lớp văn cô Ngọc Anh trực tiếp giảng dạy tại Hà Nội: Tìm hiểu thêm
- Tham khảo sách Chuyên đề Lí luận văn học phiên bản 2025: Tủ sách Thích Văn học
- Tham khảo bộ tài liệu độc quyền của Thích Văn học siêu hot: Tài liệu
- Đón xem các bài viết mới nhất trên fanpage FB: Thích Văn Học



