So sánh, đánh giá một khía cạnh của hai tác phẩm là một dạng đề nghị luận văn học mới, đã xuất hiện trong một số đề thi thử gần đây. Đối với kiểu đề này, các bạn học sinh cần có khả năng đối chiếu, chọn được những tiêu chí so sánh phù hợp và triển khai các ý mạch lạc, sáng rõ. Cùng Thích Văn học làm quen với dạng đề này qua dàn ý chung và ví dụ minh họa qua bài viết hôm nay nhé!
1. Dàn ý
a. Mở đoạn:
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm của hai đoạn trích.
– Nêu vấn đề nghị luận: Ở hai đoạn trích, có những điểm tương đồng và khác biệt trong (khía cạnh đề yêu cầu).
b. Thân đoạn:
– Khái quát ngắn gọn nội dung của hai đoạn trích.
– Điểm giống nhau: có thể trên các phương diện
- Về nhân vật (hành động, tính cách, số phận,…)
- Về cốt truyện (sự việc mang tính bước ngoặt, thông điệp,…)
- Về nghệ thuật (điểm nhìn, các yếu tố nghệ thuật,…)
– Điểm khác nhau: có thể trên các phương diện
- Về nhân vật (hành động, tính cách, số phận,…)
- Về cốt truyện (sự việc mang tính bước ngoặt, thông điệp,…)
- Về nghệ thuật (điểm nhìn, các yếu tố nghệ thuật,…)
– Lí giải nguyên nhân của sự giống nhau, khác nhau:
- Bối cảnh lịch sử, thời đại.
- Mục đích sáng tác.
- Phong cách sáng tác.
c. Kết đoạn:
Tham khảo: Sách Chuyên đề lý luận văn học
– Khẳng định vấn đề nghị luận.
– Đưa cảm nhận cá nhân/ rút ra thông điệp.
Lưu ý:
– Cần phân tích đề bài để xác định đúng khía cạnh cần nghị luận. VD: Đề bài là: So sánh, đánh giá kết thúc truyện “Thi Thành Hoàng” ở phần Đọc hiểu với kết thúc truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” (Nguyễn Dữ) thì bài làm cần tập trung vào khía cạnh so sánh: kết thúc truyện (không so sánh trong cả bài).
– Cần nêu tiêu chí so sánh rõ ràng để bài viết được mạch lạc; nên chọn tiêu chí phù hợp về số lượng (từ 2 – 3 tiêu chí) và chất lượng (những tiêu chí mang tính khái quát, tránh so sánh từng hành động, từng lời nói,…)
2. Ví dụ minh họa (Đề thi KSCL THPT Gia Bình số 1 – Bắc Ninh năm 2024)
THI THÀNH HOÀNG
Ông tổ của anh rể tôi, Tống Công là một sinh viên ăn học bổng của ấp. Một hôm nằm bệnh, thấy có viên lại cầm văn thư, dắt một con ngựa trán có đốm trắng đến nói rằng:
– Xin mời ông đi thi
Ông nói:
– Quan giám khảo chưa đến, sao vội thi được? Viên lại không nói gì, chỉ thúc đi. Ông bèn cố gượng cưỡi ngựa đi theo, thấy một con đường rất xa lạ đến một toà thành quách như nơi kinh đô. Một lát vào giải vũ, cung điện tráng lệ, ngồi trên có hơn mười vị quan, đều không biết là ai, chỉ biết có một vị là Quan Vũ. Dưới thềm bày hai đôn hai kỷ, trước mình đã có một vị tú tài ngồi trên một đôn. Ông bèn ngồi hai bên cạnh. Trên kỷ có đặt bút và giấy. Giây lát có đề thi đưa xuống nhìn xem thì có tám chữ: “Nhất nhân, nhị nhân, hữu tâm, vô tâm”.
Hai ông làm bài xong, trình lên điện, trong bài văn của ông có câu:
“Hữu tâm vi thiện, tuy thiện bất thưởng,
Vô tâm vi ác, tuy ác bất phạt”.
(Làm việc thiện mà có chủ ý thì không được thưởng,
Làm việc ác mà không có chủ ý thì không bị phạt).
Các thần đưa nhau xem, khen mãi không thôi, gọi lên bảo rằng:
– Ở Hà Nam khuyết một chức Thành Hoàng, ông đáng giữ chức ấy.
Ông hiểu ra, dập đầu khóc mà thưa rằng:
– Được ân ban sủng đâu dám từ nan, chỉ hiềm một nỗi còn mẹ già bảy mươi tuổi, không ai phụng dưỡng. Xin được đến hết tuổi trời lúc ấy lục dụng sẽ vâng theo.
Trên toà có vị vương giả truyền rằng:
– Tra số xem người mẹ thọ bao nhiêu?
Có một viên quan lạt râu dài, lấy sổ ra xem, rồi bẩm:
– Theo số còn được ở dương gian chín năm nữa.
Trong lúc các quan còn dùng dằng thì quan đế nói:
– Không hề gì, cho Trương Sinh thay giữ chức ấy chín năm cũng được.
Một ông nói rằng:
– Đáng lẽ phải đi nhận chức ngay. Nay xét có lòng hiếu cho nghỉ chín năm. Đến kì hạn phải nghe vâng lệnh triệu.
Đoạn cũng phủ dụ ông tú tài kia vài lời. Hai ông cúi đầu chào lui xuống […] Ông lên ngựa từ biệt mà về, tới làng chợt như tỉnh mộng. Ông chết đã ba ngày rồi, bà mẹ bỗng nghe trong quan tài có tiếng rên rỉ, bèn mở ra, nửa ngày thì nói được. Hỏi đến Trường Sơn thì có Trương Sinh chết vào ngày hôm đó thật.
Chín năm sau, quả nhiên bà mẹ chết. Chôn cất mẹ xong, ông tắm gội vào nhà trong cũng mất luôn. Bên nhà vợ, ở trong cửa thành phía tây chợt thấy ông cưỡi ngựa choàng ngủ đỏ, rất đông xe ngựa đi theo, lên nhà trên làm lễ rồi ra đi. Cả nhà lạ lùng, kinh ngạc, không biết rằng đã thành thần rồi. Chạy đi hỏi thăm tin tức trong làng, thì ông đã mất.
(Liêu trai chí dị – Bồ Tùng Linh, Biên dịch Đại Lân, NXB Thanh Hoá, trang 638, 639, năm 2004)
Đề bài: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá kết thúc truyện “Thi Thành Hoàng” ở phần trên với kết thúc truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên” – Nguyễn Dữ, Sách giáo khoa Ngữ văn 12, tập 1, trang 19, NXB Đại học Huế, năm 2024.
“Tử Văn vui vẻ nhận lời, bèn thu xếp việc nhà, rồi không bệnh mà mất. Năm Giáp Ngọ, có người thành Đông Quan, vốn quen biết với Tử Văn, một buổi sớm đi ra ngoài cửa Tây vài dặm, trông thấy trong sương mù có xe ngựa đi đến ầm ầm, lại nghe tiếng quát:
– Người đi đường tránh xa, xe quan phán sự! Người ấy ngẩng đầu trông thì thấy người ngồi trên xe chính là Tử Văn. Song Tử Văn chỉ chắp tay thi lễ chứ không nói một lời nào, rồi thoát đã cưỡi gió mà biến mất.”
Dàn ý minh họa phần Thân đoạn
* Điểm giống:
– Đều có kết thúc có hậu khi những người tài đức đều nhận được sự đền đáp xứng đáng.
- “Thi Thành Hoàng”: Tống Công là người hiếu thảo và chính trực. Sau chín năm phụng dưỡng mẹ, ông hóa thần và nhậm chức Thành Hoàng.
- “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”: Ngô Tử Văn sau khi đã dám đứng lên bảo vệ công lí cũng được triệu về cõi âm để nhậm chức.
– Đều sử dụng các chi tiết kì ảo (như cưỡi gió, cưỡi ngựa,…) để khắc họa hình ảnh những vị quan đầy uy nghi.
* Điểm khác nhau:.
– Chức vụ tại cõi âm khi hoàn thành nhiệm vụ ở trần gian:
- “Thi Thành Hoàng”: nhân vật Tống Công giữ chức Thành Hoàng ở Hà Nam, là vị thần trông coi, quản lí vùng Hà Nam.
- Trong truyện “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”: nhân vật Tử Văn giữ chức vụ quan phán sự, là người thực thi công lí, xem xét các vụ kiện tụng, xử án.
– Thông điệp:
- “Thi Thành Hoàng”: kết thúc đề cao giá trị, sức mạnh của đạo hiếu; khẳng định những phẩm hạnh của tấm lòng trong sáng sẽ được đền đáp.
- “Chuyện chức phán sự đền Tản Viên”: kết thúc khẳng định sự chiến thắng của công lí, niềm tin những người đứng lên vì lẽ phải sẽ được trọng dụng.
* Lí giải điểm giống và điểm khác:
– Giống nhau: việc nhân vật được phong thần/ làm quan nơi cõi âm là một trong những mô-típ của thể loại truyền kì nhằm gửi gắm những thông điệp sâu sắc.
– Khác nhau: phong cách sáng tác của mỗi tác giả; bối cảnh thời đại và mục đích sáng tác (Bồ Tùng Linh viết trong tâm thế của một danh sĩ không có cơ hội thi thố tài năng; Nguyễn Dữ viết trong tâm thế ghi chép tản mạn những truyện kì lạ được lưu truyền;…)
Tham khảo các bài viết khác tại đây:
Cách làm bài văn đánh giá hai tác phẩm truyện
Xem thêm:



