NLVH: Phân tích bài thơ “Năm mới chúc nhau”

Dan y phan tich Nam moi chuc nhau

Bài thơ Năm mới chúc nhau của Trần Tế Xương là một tác phẩm tiêu biểu cho thơ trào phúng Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Qua những lời chúc Tết tưởng như vui vẻ, nhà thơ đã khéo léo lật tẩy thói tham lam, giả dối và lối sống chạy theo danh lợi của xã hội đương thời. Thích Văn học sẽ giúp bạn hiểu rõ phong cách châm biếm sắc sảo của Tú Xương trong chương trình nghị luận văn học. Cùng đọc và tham khảo nhé!

Đề bài

Viết bài văn phân tích bài thơ “Năm mới chúc nhau” của Trần Tế Xương được trích ở phần Đọc hiểu

Dàn ý

PhầnCâuNội dungĐiểm
II




2




Viết bài văn phân tích bài thơ “Năm mới chúc nhau” của Trần Tế Xương được trích ở phần Đọc hiểu4.0
a) Đảm bảo về hình thức: Bài văn, đảm bảo chuẩn ngữ pháp và chính tả,…0.25
b) Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích bài thơ “Năm mới chúc nhau” được trích ở phần Đọc hiểu0.25
c) Đề xuất được hệ thống ý phù hợp

1. Mở bài: 

Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu vấn đề nghị luận: Bài thơ “Năm mới chúc nhau” thể hiện giọng thơ châm biếm sắc sảo của Tú Xương, phơi bày bản chất giả dối, tham lam của một bộ phận quan lại và người đời lúc bấy giờ.

0.25
2. Thân bài:

a) Bổ sung thông tin chi tiết về tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm/lí giải nhan đề:

Trần Tế Xương là một nhà thơ tiếng trong nền văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. Cuộc đời của ông không mấy thuận lợi trong thi cử, trải qua 8 khoa thi đều hỏng; thế nhưng ông vẫn lựa chọn kiên trì đến cùng. Với phong cách thơ sắc bén, kết hợp hài hòa hiện thực trào phúng và trữ tình, giọng thơ châm biếm, đả kích sâu cay, sự nghiệp văn học của ông đã để lại cho đất nước nhiều tác phẩm có giá trị đến ngày nay.

– “Chúc nhau” tưởng như là những lời tốt đẹp đầu năm, nhưng qua lăng kính của tác giả lại mang nhiều ý nghĩa trái chiều. 

– Đặt trong hoàn cảnh xã hội cuối thế kỷ XIX – đầu XX đầy rối ren, khi đạo đức suy đồi, con người chạy theo danh lợi, tiền tài, thì lời chúc ấy lại trở thành lời châm biếm đầy mỉa mai.

0.25
b) Những lời chúc mang tính giễu cợt, trào lộng, đả kích sâu cay

– Khổ 1: Lời chúc thọ

  • “Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu” vốn là lời chúc trang trọng thành kính nhưng tác giả chỉ thêm vào chữ “râu”, câu thơ ấy ngay lập tức hóa thành lời chế nhạo. 
  • Thái độ châm biếm thể hiện qua toan tính “Phen này ông quyết đi buôn cối/Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu” do ai cũng tuổi già “bạc đầu râu”, răng không còn nên phải dùng cối giã trầu → Cơ hội để tác giả “kiếm lời”.

– Khổ thơ 2: Lời chúc giàu 

  • Cách nói tăng tiến “trăm, nghìn, vạn” vừa mang tính phóng đại, vừa thể hiện lòng tham không đáy của con người.
  • Câu hỏi tu từ “để vào đâu?” không chờ lời đáp, mà như một lời nhắc nhở, phê phán: của cải có nhiều đến đâu rồi cũng không biết dùng vào việc gì tốt đẹp, cuối cùng chỉ là hư ảo.
  • “Gà ăn bạc” gợi cảnh đánh bạc, đỏ đen ngày Tết.
  • “Đồng rụng, đồng rơi” và “lọ phải cầu” cho thấy sự sa đọa, mê tín, sống dựa vào vận may của những kẻ ham tiền.

– Khổ thơ 3: Lời chúc sang

  • BPTT liệt kê + cách dùng từ “đứa” để vạch trần thực trạng xã hội thối nát, nơi quan chức không còn được bổ nhiệm bằng tài năng hay đức độ, mà được “mua” bằng tiền: “Đứa thì mua tước, đứa mua quan”
  • Nhà thơ tiếp tục bày tỏ toan tính: “Phen này ông quyết đi buôn lọng/Vừa bán vừa la cũng đắt hàng”
    • “Buôn lọng”: “lọng” vốn là vật dùng để che cho người có chức quyền → “buôn lọng” chính là ẩn dụ cho việc buôn bán danh vị, nịnh hót kẻ quyền thế để kiếm lợi.
    • Tác giả nói như thể chính mình cũng sẽ đi “buôn lọng”, nhưng thực chất là chế giễu cái xã hội kim tiền, nơi mọi thứ đều có thể mua bán, kể cả danh dự và quyền lực.

– Khổ thơ 4: Lời chúc con

  • “Sinh năm đẻ bảy được vuông tròn” vốn là một lời chúc tốt đẹp; nhưng khi đặt vào hoàn cảnh “phố phường chật hẹp, người đông đúc” thì lại trở thành câu nói mang tính hình thức và mê tín: khi người ta chỉ mong đông con, nhiều cháu mà không nghĩ đến điều kiện sống hay giáo dục.
  • Câu thơ “Bồng bế nhau lên nó ở non” tưởng vui nhưng thật ra ẩn chứa nỗi xót xa sâu sắc: sinh nhiều mà không đủ sống, cuối cùng phải “lên non” – tức là chết đói, chết khổ.
0.25
c) Đặc sắc về nghệ thuật

– Tác giả đã sử dụng cặp đại từ “nó – ông”:

  • “Nó” vốn là đại từ chỉ để gọi một lớp người có vị trí thấp hơn mình, vừa xa cách, vừa mang tính miệt thị coi thường.
  • “Ông” là cách xưng hô trịch thượng của người bề trên 

→ Thông qua cách xưng hô này, Tú Xương đã trực tiếp vạch trần bản chất giả dối của những kẻ nhố nhăng, bộc lộ cái nhìn khinh thị, giễu cợt trước bối cảnh xã hội bị đảo lộn giá trị, nơi kẻ học thật, tài thật như ông thì bị coi thường, còn bọn “nó” – những kẻ bất tài, xu nịnh, dựa thế mà phất lên lại được trọng vọng.

– Phép điệp cấu trúc + liệt kê: “Lẳng lặng mà nghe…” tạo sự liền mạch và tăng thêm sắc thái mỉa mai, châm biếm.

– Giọng điệu thơ vừa dí dỏm, hài hước vừa chế giễu, đả kích sâu cay.

– Hình ảnh thơ giàu sức gợi và có tính châm biếm mạnh mẽ.

1.0
3. Kết bài: Khẳng định lại giá trị của bài thơ và liên hệ bản thân.0.25
d) Bài viết có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo0.25

Tham khảo các bài viết khác tại đây:

Đọc hiểu văn bản “Năm mới chúc nhau”

NLXH: Ý nghĩa của những việc làm nhỏ bé

Xem thêm: