Trong mảng thơ trào phúng, Trần Tế Xương nổi tiếng với tiếng cười sắc sảo mà cay đắng trước xã hội thực dân nửa phong kiến. Bài thơ Giễu người thi đỗ không chỉ chế giễu những kẻ đỗ đạt mà thiếu thực tài, mà còn thể hiện nỗi đau của một trí thức trước sự đảo lộn giá trị. Thích Văn học sẽ giúp bạn hiểu rõ nội dung châm biếm sâu cay và nghệ thuật trào phúng đặc sắc của tác phẩm. Cùng đọc và tham khảo nhé!
Đề bài
Viết bài văn phân tích bài thơ “Giễu người thi đỗ” của Trần Tế Xương được trích ở phần Đọc hiểu
Dàn ý
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
| II | 2 | Viết bài văn phân tích bài thơ “Giễu người thi đỗ” của Trần Tế Xương được trích ở phần Đọc hiểu | 4.0 |
| a) Đảm bảo về hình thức: Bài văn, đảm bảo chuẩn ngữ pháp và chính tả,… | 0.25 | ||
| b) Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích bài thơ “Giễu người thi đỗ” được trích ở phần Đọc hiểu | 0.25 | ||
| c) Đề xuất được hệ thống ý phù hợp 1. Mở bài: – Giới thiệu tác giả, tác phẩm – Nêu vấn đề nghị luận: “Giễu người thi đỗ” của Trần Tế Xương là tiếng cười trào phúng, chế giễu các sĩ tử – vốn là người đọc sách thánh hiền lại phải cam chịu ngồi hạ mình trước kẻ thực dân ngoại bang. | 0.25 | ||
| 2. Thân bài: a) Bổ sung thông tin chi tiết về tác giả và hoàn cảnh ra đời của tác phẩm – Trần Tế Xương là một nhà thơ tiếng trong nền văn học Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX. Cuộc đời của ông không mấy thuận lợi trong thi cử, trải qua 8 khoa thi đều hỏng; thế nhưng ông vẫn lựa chọn kiên trì đến cùng. Với phong cách thơ sắc bén, kết hợp hài hòa hiện thực trào phúng và trữ tình, giọng thơ châm biếm, đả kích sâu cay, sự nghiệp văn học của ông đã để lại cho đất nước nhiều tác phẩm có giá trị đến ngày nay. – Bài thơ ra đời trong bối cảnh xã hội thời Pháp thuộc, khoa cử Nho học suy tàn, nhiều người thi đỗ nhưng chẳng có thực tài, chỉ ham danh lợi. Trần Tế Xương dùng giọng điệu châm biếm sắc sảo để mỉa mai những kẻ “đỗ” mà không có học, đồng thời thể hiện nỗi cay đắng của một trí thức bất lực trước sự xuống cấp của đạo học và thời thế. | 0.25 | ||
| b) 2 câu thơ đầu: Thái độ chán nản của các sĩ tử nói chung, đặc biệt là những người không đỗ đạt. Tham khảo: Sách Chuyên đề lý luận văn học – “ Một đàn thằng hỏng đứng mà trông”:
– “Nó đỗ khoa này có sướng không!”.
→ Câu thơ kết thúc bằng dấu chấm than, vừa như một câu hỏi tu từ đặt ra sự nghi ngờ, vừa như lời than thở đầy cay đắng của người viết trước sự xoay vần và bất công của thời đại đã đảo chiều mà quyền lực thuộc về tay những người ngoại bang. | 1.0 | ||
| c) 2 câu cuối: Thực tế đáng hổ thẹn của các sĩ tử đỗ đạt. – 2 câu thơ sử dụng phép đối thể hiện rõ nhất sự đối lập của những người sĩ tử phải cam chịu hạ mình với sự lấn át của các thế lực ngoại bang:
→ Sự xuất hiện của “bà đầm” trên ghế cao là hình ảnh tượng trưng cho sự lấn át, chiếm lĩnh quyền lực của ngoại bang.
→ Hình ảnh “dưới sân” và “trên ghế” đối lập không chỉ về không gian vật lý mà còn về vị thế xã hội: sĩ tử hạ mình dưới chân kẻ thống trị. | 1.0 | ||
| d) Tổng kết về nghệ thuật – Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật thể hiện học vấn uyên thâm – Ngôn ngữ thơ trào phúng, giọng điệu châm biếm, đả kích sâu cay – Hình ảnh thơ giàu tính biểu tượng – Các BPNT đặc sắc: đối lập, câu hỏi tu từ | 0.5 | ||
| 3. Kết bài: Khẳng định lại giá trị của bài thơ và liên hệ bản thân. | 0.25 | ||
| d) Bài viết có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo | 0.25 |
Tham khảo các bài viết khác tại đây:
Đọc hiểu văn bản “Giễu người thi đỗ”
NLXH: Hiền tài là nguyên khí quốc gia
Xem thêm:



