“Tiêu chuẩn vĩnh cửu của thơ ca là cảm xúc” – lời khẳng định của Bằng Việt đã mở ra một cách nhìn sâu sắc về giá trị bền lâu của thơ. Trong bài viết này, Thích Văn học sẽ cùng bạn khám phá vẻ đẹp cảm xúc trong bài thơ Dạ khúc cho vầng trăng của Vũ Duy Thông. Với những hình ảnh gợi cảm và nhạc điệu dạt dào, bài thơ không chỉ gợi nhớ kỷ niệm mà còn khẳng định vai trò trung tâm của cảm xúc trong việc tạo nên sức sống lâu dài cho tác phẩm văn học.
Đề bài:
Nhà thơ Bằng Việt cho rằng: “Tiêu chuẩn vĩnh cửu của thơ ca là cảm xúc”.
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Dựa vào bài thơ “Dạ khúc cho vầng trăng” (Vũ Duy Thông) hãy làm sáng tỏ ý kiến trên?
Bài làm
Trong thế giới bao la của nghệ thuật nói chung, văn học nói riêng, có những giá trị không bị chi phối bởi dòng chảy khắc nghiệt của thời gian, không bị bào mòn bởi sự đổi thay của ngôn ngữ hay thị hiếu nghệ thuật. Đó chính là cảm xúc. Thơ ca, từ thuở còn là thành quả sáng tạo chung của tập thể đến khi trở thành bản ngã sáng tạo riêng của những tâm hồn hiện đại, vẫn luôn là vùng đất thiêng của những rung động sâu xa nhất trong thế giới nội tâm của con người. Bởi thế, nhà thơ Bằng Việt khẳng định: “Tiêu chuẩn vĩnh cửu của thơ ca là cảm xúc”. Đó không chỉ là một lời đúc kết về bản chất thi ca, mà còn là nguyên lý sáng tạo xuyên suốt mọi thời đại: thơ chỉ thực sự sống khi xuất phát từ cảm xúc và khơi gợi được cảm xúc nơi người đọc. Nhận định ấy được minh chứng rõ ràng qua bài thơ “Dạ khúc cho vầng trăng” của Vũ Duy Thông – một khúc hát đêm ngân vang trong tình yêu thương của mẹ, đã hóa thành ánh trăng trong ký ức người thi sĩ.
Trong cuốn “Từ điển thuật ngữ Văn học”, nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa thơ là “hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu”. Thơ không đơn thuần là sự sắp đặt ngôn ngữ, mà còn là sự sống được thổi vào trong từng câu chữ, khiến lời thơ không chỉ để đọc mà còn để cảm, để rung lên bằng những xúc động tinh tế trong tâm hồn. Tiêu chuẩn chính là thước đo, là căn cứ để đánh giá giá trị của một đối tượng và có thể thay đổi theo thời gian. Tuy nhiên, tiêu chuẩn vĩnh cửu là loại thước đo có giá trị bất biến – thứ sẽ luôn tồn tại bất kể mọi biến thiên về hình thức, trào lưu hay thị hiếu. Do đó, khi nhà thơ Bằng Việt khẳng định rằng cảm xúc là tiêu chuẩn vĩnh cửu, ông đã xác lập một nguyên lý mang tính bản thể của thi ca: trong muôn vàn yếu tố làm nên giá trị của thơ thì cảm xúc chính là linh hồn, là yếu tố không thể thiếu, không thể thay thế và không bao giờ lỗi thời. Cảm xúc ở đây không chỉ là những sự vui, buồn, xúc động,… nhất thời mà còn là dòng chảy nội tâm chân thật, mãnh liệt, được thăng hoa qua lao động nghệ thuật, được khởi phát từ sâu thẳm con tim của người nghệ sĩ. Trong dòng chảy của thời gian, thơ có thể biến đổi về hình thức, đa dạng về phong cách; song nếu thiếu đi cảm xúc, nó sẽ mất đi sức sống nội tại, không thể tạo nên sự cộng hưởng với người đọc. Chính vì thế, cảm xúc – và chỉ cảm xúc – mới là ngọn lửa giữ cho lời thơ sống mãi, trở thành tiêu chuẩn vĩnh cửu mà thơ ca mọi thời đại đều hướng tới.
Nhận định nghệ thuật của Bằng Việt không chỉ cho thấy trực giác sáng tạo của một người nghệ sĩ mà còn là sự đúc kết từ quá trình chiêm nghiệm văn chương lâu dài, được soi rọi bởi hệ thống cơ sở lý luận vững chắc về thơ ca. Quan sát sự vận động của nền văn học Việt Nam, ta thấy rằng ngay từ khởi nguồn văn học dân gian, hàng ngàn câu tục ngữ, ca dao đã được gìn giữ và lưu truyền không phải nhờ kỹ thuật ngôn từ cầu kỳ, mà bởi cảm xúc chân thành, mộc mạc, gần gũi với đời sống. Trong thời kì văn học trung đại, khi Lê Quý Đôn khẳng định: “Thơ khởi phát từ lòng người”, ông đã nhấn mạnh rằng tình cảm sẽ quyết định sự sinh thành của thơ. Và khi đại thi hào Nguyễn Du đặt bút viết trong kiệt tác “Truyện Kiều” đôi câu: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”, thì ông cũng đã bày tỏ sự đề cao cái “tâm” – hay chính là cảm xúc và đạo lý – lên trên cả tài năng dụng chữ. Đến chặng đường nở rộ của thơ Mới, khi các giá trị của thế giới nội tâm riêng tư con người được đưa lên vị trí sáng nhất trong thơ, ta càng thấy rõ hơn vai trò cốt lõi của cảm xúc trong tác phẩm nghệ thuật – như nhà thơ Chế Lan Viên đã khẳng định: “Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép”.
Thơ là đại diện tiêu biểu của loại thể trữ tình, là hình thức nghệ thuật được sản sinh ra để cất lên tiếng nói cho những tình cảm, cảm xúc đã đạt đến độ chín muồi, mãnh liệt nhất của con người. Bởi thế, theo một lẽ tự nhiên, cảm xúc trở thành linh hồn của thi phẩm, là sợi chỉ đỏ kết nối tâm hồn người viết với trái tim người đọc. Người đọc tìm đến thơ là tìm đến thế giới đồng điệu. Mỗi thi nhân lại có những hình thức biểu hiện khác nhau để diễn tả những rung cảm của tâm hồn mình. Và sự gặp gỡ giữa người đọc với người làm thơ qua câu chữ sẽ khơi lên sự đồng cảm sâu sắc, mãnh liệt vượt thời gian giúp cho thi phẩm đó có sức sống lâu bền.
Tham khảo: Sách Chuyên đề lý luận văn học
Như vậy, có thể thấy rằng xuyên suốt tiến trình văn học dân tộc, ở bất kỳ thời đại hay giai đoạn nào, cảm xúc vẫn luôn giữ vai trò then chốt trong việc xác lập giá trị đích thực của một thi phẩm. Nó không chỉ đơn thuần là một yếu tố trong thi ca, là chất xúc tác cho sự sáng tạo mà còn đóng vai trò như một cầu nối vô hình gắn kết tâm hồn thi nhân với trái tim độc giả, tạo nên sức lan tỏa và sức sống bền bỉ cho thơ qua thời gian.
Cảm xúc là tiêu chuẩn vĩnh cửu của thơ ca và nhà thơ Vũ Duy Thông – trong hành trình sáng tạo bài thơ “Dạ khúc cho vầng trăng” – đã bám sát vào tiêu chuẩn ấy. Là một cây bút với giọng thơ hồn hậu, Vũ Duy Thông đã thâu vào lời thơ của mình khúc hát ru dịu dàng, đầy chất trữ tình trong một không gian đêm thanh vắng. Với nhãn tự là hình ảnh vầng trăng được nhân hóa độc đáo, bài thơ không chỉ gợi ra vẻ đẹp bình yên của tuổi thơ mà còn đong đầy tình yêu thương, sự chở che của người mẹ dành cho con.
Chất trữ tình lãng mạn của bài thơ được thể hiện ngay từ nhan đề tác phẩm – “Dạ khúc cho vầng trăng”. “Dạ khúc” là bản nhạc vang lên trong đêm, thường gắn với những cung bậc cảm xúc sâu lắng, da diết và riêng tư. Việc sử dụng cụm từ này trong một nhan đề thơ đã tạo nên ấn tượng độc đáo, gợi sự kết hợp hài hòa giữa thi ca và âm nhạc; mở ra một không gian nghệ thuật thấm đẫm nhạc tính và cảm xúc. Trong khi đó, “vầng trăng” từ lâu đã là biểu tượng quen thuộc trong văn học, đại diện cho vẻ đẹp thuần khiết, thanh cao, tròn đầy và vĩnh cửu. Trong thơ Vũ Duy Thông, hình ảnh vầng trăng không đơn thuần là cảnh vật thiên nhiên tĩnh tại, mà còn được nhân hóa lên thành đối tượng tâm tình, như một người tri kỷ lặng lẽ cùng nhà thơ chia sẻ những suy tư, hoài vọng sâu kín trong tâm hồn. Vẻ đẹp của vầng trăng trong tác phẩm được gắn liền với tình mẫu tử thiêng liêng – một di sản cao đẹp, thủy chung và bền vững trước mọi đổi thay, băng hoại của thời gian. Cách đặt nhan đề “Dạ khúc cho vầng trăng” không chỉ bày tỏ tình yêu, sự trân trọng thiên nhiên của nhà thơ mà còn là lời tôn vinh cho vẻ đẹp thiêng liêng, vĩnh hằng của tình mẹ. Như tác giả Thùy Dương từng nhận định: “Nhan đề tác phẩm là cửa sổ nhìn thế giới do nghệ sĩ mở ra”; qua nhan đề này, Vũ Duy Thông đã mở ra một thế giới nghệ thuật chứa chan cảm xúc, đồng thời định hướng người đọc tiếp cận tác phẩm bằng một cái nhìn trữ tình giàu tính biểu tượng.
Bài thơ mở ra với hình ảnh người mẹ bồng con, hát cho con những lời ru ngọt ngào với mong muốn con sẽ có giấc ngủ ngon lành để mơ về những điều tốt đẹp:
“Trăng non ngoài cửa sổ
Mảnh mai như lá lúa
Thổi nhẹ thôi là bay
Con ơi ngủ cho say
Để trăng thành chiếc lược
Chải nhẹ lên mái tóc
Để trăng thành lưỡi cày
Rạch bầu trời khuya nay”
Hình ảnh trăng non hiện lên vô cùng duyên dáng và thanh khiết trong lời ru của mẹ. Mẹ so sánh trăng non với lá lúa, với chiếc lược, với lưỡi cày – những sự vật bình dị, gần gũi với cuộc sống lao động thường ngày. Trong không gian đêm yên ả, mẹ ru con ngủ bằng ánh trăng và bằng cả ký ức của một miền quê thấm đẫm hồn dân tộc. Trăng trở thành biểu tượng của vẻ đẹp mềm mại, thuần khiết; vừa có chất nữ tính dịu dàng, vừa mang sức sống cần lao bền bỉ. Cách miêu tả giàu tính tượng hình ấy không chỉ khắc họa hình ảnh vầng trăng một cách sinh động mà còn thể hiện một tâm hồn thi sĩ luôn rung cảm trước vẻ đẹp giản dị của thiên nhiên và cuộc sống. Lời ru của mẹ trở thành bài học đầu tiên về thẩm mỹ, về nhân sinh dành cho con, rằng: tình yêu cái đẹp phải được bắt nguồn từ những điều bé nhỏ, gần gũi nhất. Khổ thơ đầu với 8 câu thơ ngắn gọn đã không chỉ viết về tình mẫu tử, mà còn viết về mối quan hệ hài hòa giữa con người và thiên nhiên vũ trụ, giữa quá khứ và tương lai, giữa mẹ và con bằng những hình ảnh lung linh và xúc động nhất. Sự kết hợp đầy tinh tế ấy không chỉ thể hiện chất thơ lãng mạn mà còn gửi gắm một cái nhìn đầy yêu thương và nhân văn về thế giới.
“Trăng thấp thoáng cành cây
Tìm con ngoài cửa sổ
Cửa nhà mình bé quá
Trăng lặn trước mọi nhà
Vai mẹ thành võng đưa
Theo con vào giấc ngủ
Trăng thành con thuyền nhỏ
Đến bến bờ tình yêu…”
Nếu khổ thơ đầu gieo vào lòng người đọc những rung động dịu dàng qua hình ảnh người mẹ ru con ngủ trong ánh trăng non, thì khổ thơ cuối lại mở rộng chiều sâu xúc cảm, diễn tả sự nâng niu, che chở và tình yêu thương bao la của mẹ dành cho con. Lời thơ vang lên như một lời thủ thỉ, mang theo tình yêu của mẹ để thêm vị ngọt ngào cho giấc mơ của con. Và trăng – hình ảnh trung tâm của bài thơ – tiếp tục xuất hiện. Nhưng lần này, không còn là vầng trăng tĩnh tại, lặng lẽ ngoài cửa sổ mà là một vầng trăng sống động, biết “tìm con”, biết “lặn trước mọi nhà”. Ánh trăng như mang theo tâm hồn của người mẹ, thầm lặng yêu thương, đồng hành và hy sinh vì con. “Cửa nhà mình bé quá” là một cách miêu tả đầy ý vị, gợi lên không gian sống chật hẹp, thiếu thốn về vật chất, nhưng lại thấm đẫm sự đủ đầy của tình cảm gia đình. Chính trong cái bé nhỏ, chật chội ấy, tình mẹ lại hóa thành bao la. “Vai mẹ thành võng đưa/Theo con vào giấc ngủ” – hình ảnh “vai mẹ” gợi sự gánh vác, bền bỉ và kiên cường; “thành võng đưa” không chỉ miêu tả chuyển động mà còn diễn tả trọn vẹn sự nâng niu, chở che, dịu dàng của mẹ. Hình ảnh ấy vừa thực vừa thơ, không chỉ cho thấy sự chăm chút tỉ mỉ mà còn thể hiện mẹ luôn là điểm tựa, là cả thế giới an toàn và bình yên để con có thể yên tâm chìm vào giấc ngủ. Vầng trăng trong khổ thơ này mang dáng dấp của một “con thuyền nhỏ”, đưa con đến “bến bờ tình yêu” – nơi hứa hẹn những điều tươi đẹp, bình yên mà mẹ dành cho con. Hình ảnh “con thuyền trăng” không chỉ mang tính biểu tượng về những điều tươi đẹp, mà còn là một khát vọng ngọt ngào của người mẹ: mong con được lớn lên trong tình yêu thương, mong tâm hồn con luôn được bình yên, khoan khoái dẫu cuộc sống ngoài kia còn bao nỗi nhọc nhằn.
Toàn bộ bài thơ là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất liệu hiện thực đời sống với cảm hứng lãng mạn; cho thấy bút pháp tài hoa của nhà thơ Vũ Duy Thông trong việc chuyển hóa những hình ảnh rất đỗi bình dị thành những biểu tượng nghệ thuật giàu xúc cảm. Ánh trăng hòa nhịp trong lời ru của mẹ, chan hòa nhịp nhàng với từng nhịp vỗ ru con. Và phải đến đây ta mới hiểu, “dạ khúc” mà nhà thơ nhắc đến trong nhan đề chính là lời ru ngọt ngào của mẹ – giai điệu đẹp đẽ nhất được cất lên từ tính tình yêu thương và sự hy sinh cao cả. Hình ảnh “vầng trăng” một lần nữa được nâng lên, không chỉ đại diện cho vẻ đẹp của thiên nhiên, mà còn ẩn dụ cho vẻ đẹp thiêng liêng của tình mẫu tử. Con chính là vầng trăng ngây thơ, trong trẻo, là ánh sáng tỏa rạng yêu thương trong cuộc đời của mẹ. Đồng thời, mẹ cũng là vầng trăng dịu mát ngọt lành soi sáng cho tuổi thơ con, bảo bọc con trong ánh sáng của chân – thiện – mỹ.
Trong “Dạ khúc cho vầng trăng”, cảm xúc không được bộc lộ một cách ồn ào, mà lặng lẽ thấm sâu, dẫn dắt người đọc đi từ rung động dịu nhẹ đến sự lắng đọng đầy chiêm nghiệm về vẻ đẹp của tình mẫu tử – một vẻ đẹp nhân hậu, tròn đầy và vĩnh cửu như chính hình ảnh vầng trăng trong thơ. Bên cạnh các biện pháp nghệ thuật giàu tính gợi hình, gợi cảm như so sánh, ẩn dụ, điệp từ,…, dòng chảy cảm xúc ấy còn được bồi tụ nhờ một phần đóng góp của cách lựa chọn điểm nhìn, giọng điệu của nhân vật trữ tình. Từ góc độ của người mẹ, nhà thơ đã diễn tả trọn vẹn những rung động dịu dàng, những hy sinh thầm lặng và tình yêu vô bờ bến mà mẹ dành cho con. Chính điểm nhìn này đã tạo nên một giọng điệu thủ thỉ, tha thiết, giàu chất tự sự và trữ tình. Nhờ đó, bài thơ trở thành một “dạ khúc” nhẹ nhàng mà sâu lắng về tình mẫu tử, trở thành điểm tựa tuổi thơ, nâng bước người con trên hành trình dài rộng của cuộc đời; đồng thời cũng để lại trong lòng người đọc dư âm đẹp đẽ về một tình yêu không phô trương nhưng luôn rạng rỡ như ánh trăng đêm.
Trong thời đại mới – khi mà tốc độ sống ngày càng trở nên gấp gáp, con người dễ bị cuốn theo những điều hào nhoáng bên ngoài – thì bài thơ của Vũ Duy Thông như một khúc hát nhắc nhở ta quay về với những giá trị bền vững. Đó là tình thân, sự bao dung, lòng biết ơn. Không chỉ là khúc hát dịu êm về tình mẹ, “Dạ khúc cho vầng trăng” còn là một minh chứng xác đáng, bồi đắp thêm cho tính đúng đắn của nhận định “Tiêu chuẩn vĩnh cửu của thơ ca là cảm xúc”.
Với người cầm bút, nhận định của Bằng Việt là một bài học về sự tinh tế trong cảm nhận, về trách nhiệm giữ gìn và khơi nguồn cảm xúc sống. Bởi đối với một thi phẩm chân chính, giá trị đôi khi không cần đến những tuyên ngôn lớn lao, những lời lẽ cầu kỳ, mà sẽ sáng ngời lên bằng những cảm xúc chân thật được chưng cất từ đời sống. Nhà thơ không chỉ là người viết, mà còn là người lắng nghe những thanh âm dịu dàng của cuộc sống, những lời thì thầm của tình cảm, để từ đó cô đọng nên thứ cảm xúc tinh túy nhất, đưa vào thơ. Mỗi người cầm bút cần viết bằng trái tim thành thật và đôi mắt chan chứa yêu thương, để mỗi hình ảnh, mỗi dòng thơ không chỉ gợi cảm mà còn gợi nghĩ, không chỉ làm rung động người đọc, mà còn lay thức họ, đưa họ trở về với những giá trị bền lâu của con người. Còn đối với người đọc, nhận định là lời mời gọi sống chậm lại, lắng nghe nhiều hơn, và trân trọng những điều giản dị mà thiêng liêng nhất trong cuộc đời – như tình mẹ, như ánh trăng, như một khúc ru êm đềm trong đêm. Độc giả đến với thi phẩm không chỉ để hiểu, để thưởng thức mà còn để nuôi dưỡng những tầng cảm xúc nhân bản, hướng tới cái đẹp, cái thiện trong cuộc sống. Do đó, trong quá trình tiếp nhận, người đọc cần mở lòng đón nhận thơ ca không chỉ bằng lý trí, mà còn bằng cả trái tim nhạy cảm và tinh tế; cần học cách lắng nghe sự lặng im, cảm nhận vẻ đẹp trong những điều nhỏ bé đời thường, và nuôi dưỡng trong tâm hồn mình một khoảng lặng để rung cảm trước từng câu chữ. Đồng thời, ta cũng cần bồi dưỡng tri thức để nâng cao năng lực thụ cảm, để việc đọc thơ không chỉ là giải trí mà sẽ trở thành hành trình đồng cảm, thấu hiểu với nhà thơ và tự hoàn thiện bản thân trong thế giới nhiều biến động.
Thi ca sống mãi không phải vì kỹ thuật, mà vì nó đồng điệu được với sâu thẳm tâm hồn người đọc, khơi dậy những gì tốt đẹp và nhân hậu nhất trong trái tim con người. Nhận định “Tiêu chuẩn vĩnh cửu của thơ ca là cảm xúc” của Bằng Việt đã khẳng định một chân lý mang tính bất biến trong văn học. Rằng: giá trị bền lâu của một thi phẩm không nằm ở sự cầu kỳ trong ngôn ngữ hay hình thức, mà chính là ở khả năng chạm tới những cung bậc cảm xúc chân thật nhất, nhân bản nhất của con người. Có thể nói, chừng nào trái tim ta còn biết rung động, tâm hồn ta còn cảm xúc, thì thơ ca vẫn sẽ còn đường để đi – một con đường bền bỉ, âm thầm mà bất diệt.
Tham khảo bài viết khác tại đây:
Nghị luận văn học: “Thơ không chỉ đưa ru mà còn thức tỉnh”
Xem thêm:
- Lớp văn cô Ngọc Anh trực tiếp giảng dạy tại Hà Nội: Tìm hiểu thêm
- Tham khảo sách Chuyên đề Lí luận văn học phiên bản 2025: Tủ sách Thích Văn học
- Tham khảo bộ tài liệu độc quyền của Thích Văn học siêu hot: Tài liệu
- Đón xem các bài viết mới nhất trên fanpage FB: Thích Văn Học



