Dàn ý đoạn NLVH phân tích “Chạy tây” (Nguyễn Khuyến)

Dan y NLVH phan tich Chay tay

Chạy Tây (hay Chạy giặc) là bài thơ tiêu biểu cho tiếng nói đau xót, phẫn uất trước cảnh nước mất nhà tan trong văn học trung đại Việt Nam. Bài viết này của Thích Văn học gửi đến bạn dàn ý đoạn văn nghị luận văn học 200 chữ phân tích rõ bức tranh hiện thực tang thương của nhân dân, hình ảnh quê hương bị tàn phá và tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc của Nguyễn Khuyến. Cùng đọc và tham khảo nhé!

DÀN Ý “CHẠY TÂY”

(CHẠY GIẶC)

ĐiểmNội dung
a) Đảm bảo về hình thức: Đoạn văn NLVH, khoảng 200 chữ, đảm bảo chuẩn ngữ pháp và chính tả,…0.25
b) Xác định đúng vấn đề nghị luận: trình bày cảm nhận về giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ0.25
c) Đề xuất được hệ thống ý phù hợp

1. Mở đoạn:

Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nêu khái quát cảm nhận về bài thơ: Bài thơ “Chạy Tây” là tiếng kêu đau xót và phẫn uất trước cảnh nước mất nhà tan, đồng thời thể hiện tấm lòng yêu nước, thương dân sâu sắc của nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.

2. Thân đoạn:

– 2 câu đề: Khái quát hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ

  • “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây”:
    • Hình ảnh “chợ” là tượng trưng cho đời sống dân sinh
    • Từ ngữ “vừa nghe” diễn tả sự bất ngờ, kinh hoàng

→ Khung cảnh bình yên bị phá vỡ đột ngột: nơi chợ vốn tấp nập, đông vui bỗng loạn lên khi nghe tiếng súng.

  • “Một bàn cờ thế phút sa tay”:
    • “Bàn cờ thế” là hình ảnh ẩn dụ cho sự tranh đấu quyền lực giữa các thế lực
    • “Bàn cờ thế phút sa tay” ám chỉ triều đình đã thất thế,  để thành Gia Định rơi vào tay giặc. Nói cách khác, quân thực dân đã xâm chiếm được đất Gia Định.

→ Đây là biến cố lớn, gây ra đau thương, mất mát cho con người Việt Nam nói chung, nhân dân Nam Bộ nói riêng.

0.25
– 2 câu thực: Cảnh chạy giặc tang thương, hỗn loạn

  • Lựa chọn đối tượng là trẻ em – những thành viên yếu thế nhất trong xã hội, đáng lẽ phải được sống trong tình yêu thương, hòa bình. Từ láy “lơ xơ” gợi bước chân nhỏ bé, tội nghiệp, ngập ngừng giữa cảnh chiến tranh.
  • Hình ảnh “bầy chim dáo dác bay” không chỉ miêu tả khung cảnh hỗn loạn của thiên nhiên mà còn ẩn dụ con người như bầy chim mất tổ, phải bay tán loạn giữa trời đất. Từ láy “dáo dác” diễn tả nỗi hoảng hốt, bấn loạn, sợ hãi của dân thường.
  • Đảo ngữ “bỏ nhà, mất ổ” nhấn mạnh hoàn cảnh đáng thương, khổ sở.

→ Bức tranh hiện thực bi thương, cho thấy chiến tranh không chỉ cướp đi nhà cửa mà còn phá tan cuộc sống yên lành của nhân dân.

0.25
– 2 câu luận: Hình ảnh quê hương hoang tàn

  • Liệt kê “Bến Nghé, Đồng Nai” vốn là những địa danh trù phú của Nam Bộ 
  • “Của tiền tan bọt nước”: hình ảnh ẩn dụ chỉ tài sản, của cải nhân dân bị cướp phá, tiêu tan như bọt nước.
  • “Tranh ngói nhuốm màu mây”: ngói tranh của nhà dân nhuốm khói lửa chiến tranh 

→ Quê hương chìm trong khói lửa, tang thương; giàu – nghèo không phân biệt bởi ai cũng đều khổ sở.

0.25
– 2 câu kết: Bộc lộ sâu sắc tiếng kêu phẫn uất và nỗi niềm yêu nước

  • “Trang dẹp loạn”: chỉ những người có trách nhiệm giữ nước (triều đình, tướng lĩnh).
  • “Dân đen”: người dân nghèo khổ, vô tội

→ Câu hỏi tu từ thể hiện nỗi đau xen lẫn tâm trạng phẫn uất, chất chứa nỗi đau và tấm lòng thương dân sâu sắc của nhà thơ. Đồng thời qua câu hỏi ấy ông lên án chính quyền phong kiến bạc nhược, không bảo vệ được nhân dân.

0.25
– Nghệ thuật:

  • Thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật chuẩn mực, thể hiện trí tuệ bác học của thi nhân
  • Sử dụng nhiều từ láy gợi hình, gợi cảm: “lơ xơ”, “dáo dác”.
  • Hình ảnh so sánh, ẩn dụ giản dị mà sâu sắc: “bàn cờ thế”, “bầy chim mất ổ”, “bọt nước”, “màu mây”.
  • Giọng thơ bi thiết, thống thiết, chan chứa cảm xúc yêu nước và thương dân

3. Kết đoạn: Khẳng định lại giá trị của bài thơ và liên hệ bản thân/nêu thông điệp.

0.25
d) Bài viết có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo 0.25

Tham khảo các bài viết khác tại đây:

Dàn ý đoạn NLVH phân tích “Chiều xuân ở thôn Trừng Mại”

Xem thêm: