Bí kíp nâng cấp diễn đạt cho đoạn văn nghị luận văn học

Bí kíp nâng cấp diễn đạt cho đoạn văn nghị luận văn học

Đối với đoạn văn nghị luận văn học, các bạn học sinh không chỉ cần đảm bảo về mặt dung lượng mà còn cần triển khai được các ý phù hợp với yêu cầu của vấn đề nghị luận. Trong đó, việc có những cách diễn đạt sáng tạo, mới mẻ sẽ là điều tạo điểm nhấn cho đoạn văn. Cùng Thích Văn học tìm hiểu một số cách nâng cấp diễn đạt cho đoạn văn nghị luận văn học nhé!

  1. Sử dụng đa dạng các kiểu câu, cấu trúc câu:

– Sử dụng đa dạng các kiểu câu: câu đơn (để khẳng định); câu ghép (để diễn giải cụ thể); câu cảm thán, câu hỏi tu từ (để thể hiện cảm xúc, suy ngẫm). 

VD: Khi cảm nhận tâm trạng của nhân vật trữ tình trong câu thơ “Bầy chim sẻ bị nhốt trong chiếc lồng/ có nhìn thấy được tôi đâu?” (bài  thơ “Bầy chim sẻ có nhìn thấy tôi không?” – Nguyễn Phong Việt), có thể viết: Dường như, nhân vật “tôi” nhận ra chính mình cũng đang sống trong một “chiếc lồng” của những định kiến, sự kìm hãm của xã hội. Ẩn sau lời thơ, có chăng cũng là nỗi khát khao phá vỡ những giới hạn, ràng buộc để tự do là chính mình của nhân vật trữ tình?

– Sử dụng đa dạng các cấu trúc câu: cấu trúc song hành, điệp cấu trúc, cấu trúc mang tính bổ sung sẽ giúp câu văn trở nên lớp lang, đoạn văn trở nên giàu nhịp điệu. 

VD: Khi phân tích câu thơ “Hòe lục đùn đùn tán rợp giương” (bài thơ “Bảo kính cảnh giới” (bài số 43) – Nguyễn Trãi), ta có thể viết: Động từ mạnh “đùn đùn”, cách miêu tả “tán rợp giương” đã không chỉ cho thấy hình ảnh những tán hòe vươn mình mạnh mẽ mà còn đưa đến hình dung về sắc xanh tươi mát phủ kín không gian. 

VD: Khi phân tích câu thơ “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết/ bà tôi đi bán trứng ở ga Lèn” (Bài thơ “Đò lèn” – Nguyễn Duy), có thể sử dụng điệp cấu trúc: Dẫu “thánh với Phật rủ nhau đi đâu hết”, bà vẫn ở đó, vẫn ngày ngày lặn lội đi bán trứng nuôi cháu khôn lớn,  trở thành vị thánh nhân với tấm lòng cao cả để nâng đỡ tâm hồn cháu.

  1. Sử dụng nhận định văn học 

– Chỉ nên đưa một vế ngắn, phù hợp với VĐNL; dẫn dắt một cách liên kết với VĐNL. Có thể sử dụng những nhận định về: chức năng của văn học; hiện thực trong văn học; tài năng của người nghệ sĩ;…

VD: Khi cảm nhận tình cảm cha con trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, có thể sử dụng nhận định về sứ mệnh của nhà văn: Hiểu được rằng thiên chức của người nghệ sĩ là “suốt đời đi tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người” (Nguyễn Minh Châu), ẩn sâu trong đời sống, nhà văn Nguyễn Quang Sáng trong đoạn trích “Chiếc lược ngà” đã nhìn thấy trong hoàn cảnh chiến tranh éo le “hạt ngọc” của tình cha con sâu nặng. 

  1. Làm phong phú, đa dạng những cụm từ nối kết

– Bổ sung sắc thái miêu tả, biểu cảm cho các cụm từ nối kết (nối kết giữa nêu chi tiết/ hình ảnh với phân tích); tránh lặp lại nhiều lần trong đoạn văn một cụm từ nhất định.

VD: Thay vì chỉ dùng các từ “thể hiện”, “cho thấy”, “tái hiện”…

+ Có thể viết thành: “mang đến những hình dung”, “là lời khẳng định cho”; “làm sống dậy trong người đọc”;…

+ Có thể mở rộng thành: “tái hiện một cách chân thực“, “khắc họa một cách tinh tế“, “lột tả một cách xúc động/ đến tận cùng“;…

  1. Đưa ra cảm nhận cá nhân:

Điều này giúp cho lời văn trở nên tự nhiên, giàu sức truyền cảm. 

– Có thể sử dụng các cụm từ như: “ta”, “người đọc”, “tôi”,… 

VD: Với đoạn văn cảm nhận hình ảnh mẹ hải âu trong bài thơ “Lời của chim hải âu”, khi phân tích câu thơ “con đừng rúc vào ngực mẹ/ đứng nhìn vào ngấn ướt trong mắt mẹ”, ta có thể viết: Ta không khỏi xúc động trước mong muốn mà hải âu mẹ gửi gắm tới con. Đằng sau cách nói “đừng nhìn”, “đừng rúc” là sự thúc giục để con luôn bản lĩnh, tự tin; là niềm hi vọng, tin tưởng về tương lai tươi sáng khi “họ sẽ chào đón”,… con. 

Tham khảo các bài viết khác tại đây:

Phân biệt đề tài và chủ đề trong tác phẩm văn học

Đoạn văn nghị luận văn học phân tích chủ đề tác phẩm truyện

Xem thêm: