Tình đồng đội trong “Chiếc thùng phuy đựng cát”

Tinh dong doi trong Chiec thung phuy dung cat

Đối với đoạn văn Nghị luận văn học yêu cầu cảm nhận một khía cạnh nội dung, các bạn học sinh không chỉ cần nắm được văn bản mà còn cần có kĩ năng phân tích để các ý triển khai bám sát vấn đề nghị luận. Thích Văn học gửi đến bạn đoạn văn của bạn Linh Phương – học sinh lớp 12 của cô Na viết về tình đồng đội của nhân vật Thanh trong đoạn trích “Chiếc thùng phuy đựng cát” của nhà văn Văn Xương. 

Mong rằng, đoạn văn tham khảo và những lưu ý trên sẽ giúp các bạn có thêm kiến thức, kinh nghiệm khi gặp dạng bài cảm nhận một khía cạnh nội dung của tác phẩm. Cùng đọc và tham khảo nhé!

CHIẾC THÙNG PHUY ĐỰNG CÁT (trích)

 Văn Xương 

(Tóm tắt phần đầu: Ông Thanh giật mình khi cái chân cụt tê giật, nhưng hóa ra chỉ là chiếc điện thoại để trong túi quần đang rung. Ông nhận cuộc gọi từ người đồng đội đang tìm kiếm hài cốt liệt sĩ tại Thành Cổ Quảng Trị. Người bạn báo tin rằng những thùng phuy hài cốt được phát hiện không phải của Hà và Thái, khiến ông Thanh thất vọng và đau đớn. Nghe tin Quảng Trị đang mùa mưa, việc tìm kiếm càng khó khăn, ông chỉ biết thở dài, ánh mắt trĩu nặng nỗi buồn và hy vọng dang dở.)

Đơn vị Thanh được lệnh vượt sông Thạch Hãn để bổ sung lực lượng cho mặt trận Thành Cổ Quảng Trị vào đầu tháng Chín. Trời mưa như trút, cứ như trên trời có bao nhiêu nước đều dồn đồ hết xuống. Sông Thạch Hãn, nước dâng cao, chảy xiết cuốn rác rười, gỗ mục, xác động vật… trôi đi phăng phăng. Trên trời máy bay, pháo địch gầm rủ, quần đảo, bắn phá không ngưng nghỉ. Sau những tiếng nổ inh tai, nhức óc, từng đụn nước nối tiếp nhau dựng đứng lên. Có những đụn nhuốm màu đỏ ối. Nhiều đồng đội Thanh đã mãi mãi nắm lại trên dòng sông ấy… Sức vóc công tử, bơi thì kém, lớ quớ thế nào, Thanh tuột mất chiếc phao, nước cuốn xiết đi như cái chong chóng, may mà thẳng Thái kịp túm lấy tóc dìu vào bờ. Qua bên này sông, đơn vị Thanh được bố trí chốt giữ tại một khu vực gần chợ thị xã Quảng Trị. Cả thị xã đã bị san phẳng, chỉ còn là những đồng gạch, đá, bê tông, sắt thép lổm nhổm, những hố bom, đạn sâu hoắm khét lẹt mùi thuốc súng và mùi hôi thối, tanh tưởi của xác người.

Thanh, Hà, Thái được bố trí một tổ đánh địch từ hướng đường Trần Hưng Đạo ra. Hà quê Tuyên Quang, dáng thư sinh, nước da trắng mịn, môi đỏ như môi con gái nhưng rất nhanh nhẹn, lẻm lỉnh và hay mơ mộng… Thái quê ở vùng biển Thái Bình, nước da ngăm ngăm, tỉnh trầm tư, nhưng khi nói thì như đinh đóng cột, người to khỏe, lực lưỡng việc gì nặng là góp mặt… Còn Thanh thì như Hà, Thái hay bỡn cợt: Tiếng là trai Hà thành nhưng chỉ được cái học giỏi, còn người thì… vứt ra ngoài đường ba ngày đến ruồi cũng chẳng thèm đậu nói gì con gái. Ba đứa cùng học một lớp, ngành xây dựng cầu đường, Trường Đại học Xây dựng Hà Nội sơ tán ở Quế Võ, Hà Bắc nên chẳng lạ gì tính tình của nhau. Lệnh Tổng động viên, chẳng đứa nào được về thăm nhà trước khi nhập ngũ. Từng lớp tổ chức chia tay đơn sơ nhưng đầy ắp những lưu luyến và bịn rịn. Nhiều mối tình lâu nay bí mật nay “bật mí”, riêng cả ba, chẳng có lấy một mối tình vắt vai nào để tơ lòng vấn vương, thổn thức. 

Huyện đội tổ chức giao nhận quân tại trường, cả ba cùng được biên chế trong một đơn vị và được tập trung huấn luyện gấp rút khoảng một tháng ở Hòa Bình rồi lên đường đi B. Đi B là vào chiến trường miền Nam, Thanh, Hà, Thái và đồng đội chỉ biết vậy. Cuộc hành quân đài đẳng đặc, đầy gian khổ chưa từng có, ròng rã gần hai tháng trời đưa Thanh và các bạn từ giảng đường thẳng ra chiến trường. Thanh, Hà, Thái cùng một tiểu đội, và bây giờ cùng một tổ chiến đấu nên càng thương yêu nhau như ruột thịt.

Sau cái đêm chuẩn bị công sự chiến đấu, mấy ngày liền, địch liên tục mở nhiều đợt tấn công vào khu vực của đơn vị Thanh. Hai bên giành giật, giằng co nhau từng ụ đất, từng mét giao thông hào, bờ tường, đổng gạch, bê tông đồ… dưới trời mưa tầm tã và cả trong bóng đêm đen đặc. Tranh thủ lúc địch củng cố lực lượng, Thái bàn với Thanh và Hà:

– Địch từ ngoài đánh vào khó quan sát được hỏa lực của ta và bất lợi về địa hình, địa vật. Hai người dùng AK bắn nhử để chúng tập trung xông lên, rồi yểm trợ cho tớ trườn ra ngoài công sự phụt một quả B40 sẽ tiêu diệt gọn bọn chúng.

Đúng như sáng kiến của Thái, B40 là hỏa lực có sức xuyên phá mạnh, sát thương lớn, lại ở tầm gần nên chúng bị thương vong khá nhiều, xác chết nằm rải rác quanh các đống bê tông đổ nát, bờ công sự, dưới hào nước. Địch rất khiếp sợ, không dám liều lĩnh xông lên, chỉ núp từ xa bắn xối xả vào. Mấy thùng phuy cát trên công sự lỗ chỗ đầy vết đạn AR15.

Tiếng súng bỗng im bặt. Một khoảng lặng ghê người. Hà nói nhỏ với Thanh và Thái:

– Cẩn thận! Chưa chừng chúng sẽ pháo kích đó.

– Mình với địch gần nhau thế này, làm sao chúng pháo kích được – Thanh nói cứng.

– Cũng có thể địch sẽ rút ra khỏi tầm bắn, sau đó mới gọi pháo nã vào thì sao – Thái tư lự.

– Chúng sẽ không pháo kích đâu. Yên tâm đi – Thanh khẳng định lại lần nữa.

Giao thông hào, trời mưa nước từ trên dồn ứ xuống, ngập ngụa, nhờn nhờn, tanh tưởi. Là tổ trưởng nên ý kiến của Thanh coi như quyết định. Nào ngờ chỉ ít phút sau, hàng loạt đạn pháo địch tới tấp trút xuống khu vực đơn vị Thanh chốt giữ. Những tiếng nổ xé gió, rách tai, đất, đá bay vèo vèo. Không kịp rút xuống giao thông hào trú ẩn, cả ba đứa nằm úp vào thành công sự. “Viu viu… xoẹt…”. Một ánh chớp lóe cùng tiếng nổ ghê rợn. Thanh bị hất tung lên. Trời đất tối sầm lại, Thanh thấy mình nhẹ tênh như một làn sương khói cứ thế lơ lửng, lơ lửng trôi đi …

Có tiếng người thầm thì đâu đỏ rất gần, Thanh sực tỉnh, ngơ ngác hồi lâu, mới biết là mình đang nằm ở một trạm xá dã chiến. Thanh cựa mình định ngồi dậy, nhưng toàn thân ê ẩm, đau buốt không sao nhấc lên được. Một người đàn ông mặc áo bờ lu trắng đến gần bảo: “Anh bị mất máu khá nhiều nhưng rất may là đồng đội của anh đã kịp thắt ga rô”.

(Tóm tắt phần cuối: Thanh tỉnh dậy trong trạm xá, hoảng hốt tìm Hà và Thái nhưng chỉ còn lại ký ức về tình huynh đệ mà ba người đã thể ước giữa chiến trường. Nỗi đau mất bạn theo ông suốt hơn bốn mươi năm, luôn hiện về trong những giấc mơ đầy day dứt và ân hận. Sau chiến tranh, ông mới biết đồng đội đã dùng hai thùng phuy đựng cát làm quan tài cho Hà và Thái, còn gửi theo cả phần chân bị mất của ông. Dù tuổi đã cao, ông và nhóm cựu chiến binh vẫn đều đặn tìm cách quay lại Quảng Trị để lần theo dấu tích đồng đội cũ. Một ngày, ông nhận được tin vui rằng có gia đình đào được hai thùng phuy chứa hài cốt liệt sĩ gần đúng vị trí năm xưa, khiến cả nhóm òa lên trong xúc động. Đêm cuối năm, ông Thanh cùng đồng đội lên tàu vào Quảng Trị, mang theo niềm hy vọng được gặp lại hai người anh em đã gắn bó bằng lời thề sinh tử.)

(Nguồn: https://vannghedanang.org.vn/chiec-thung-phuy-dung-cat-9902.html) 

Đề bài

Viết đoạn văn 200 chữ phân tích tình đồng đội của nhân vật Thanh trong đoạn trích “Chiếc thùng phuy đựng cát”.

Bài làm

Tình đồng chí, đồng đội của nhân vật Thanh cùng hai người bạn tri kỉ đã được tác giả Văn Xương khắc họa rõ nét trong đoạn trích “Chiếc thùng phuy đựng cát”. Từ thuở còn là sinh viên, ở Thanh, Hà và Thái đã là một tình bạn thắm thiết, bền chặt. Cả ba tuy đến từ những miền quê khác nhau nhưng học cùng lớp, cùng ngành tại trường Đại học Xây Dựng; đều là những chàng trai trẻ hồn nhiên, “chẳng có lấy một mối tình vắt vai”. Chính từ sự gắn bó tự nhiên; từ sự đồng lòng khi ra chiến trường mà tình đồng chí của họ càng trở nên sâu sắc. Ta thấy một tình đồng đội đáng quý khi Thái đã không ngần ngại giúp đỡ Thanh, túm Thanh lại khi anh “bị nước xiết cuốn đi” trong một lần vượt sông Thạch Hãn. Nơi chiến trường khốc liệt, tinh thần đồng đội đã giúp Thanh và những người bạn có thêm quyết tâm để chiến đấu với địch, “giành giật, giằng co nhau từng ụ đất”. Trong một trận chiến, do phán đoán chủ quan của Thanh mà đồng đội của anh đã chịu nhiều tổn thất lớn. Ấy vậy, trong giây phút sinh tử, đồng đội của Thanh vẫn không tiếc thân mình để bảo vệ anh, “đã kịp thắt ga rô” để Thanh được an toàn. Chính tình đồng chí gắn với sự hi sinh quên mình đã “bất tử hóa” những người lính nằm lại nơi chiến trường bởi họ vẫn luôn sống mãi trong niềm nhớ thương, trân trọng của người ở lại. Chiếc quan tài của Thái và Hà được làm từ hai thùng phuy đựng cát chính là thứ Thanh mải miết đi tìm trong suốt 40 năm sau chiến tranh. Khi nhận được tin báo có hai chiếc thùng phuy đựng hài cốt gần vị trí năm xưa, Thanh cùng tấm thân thương tật vội vã lên đường về Quảng Trị, mang theo hi vọng được gặp lại những đồng đội cũ. Bằng ngôi kể thứ ba toàn tri, nhịp kể gấp gáp và nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, tác giả đã khắc họa trọn vẹn tình cảm đồng đội thiêng liêng của những người lính; vẻ đẹp đáng quý của nhân vật Thanh. “Chiếc thùng phuy đựng cát” đã để lại ấn tượng đặc biệt với người đọc về tình đồng chí của Thanh và những người đồng đội; nhắc nhở mỗi người cần biết trân trọng những tình bạn đáng quý, những người bạn luôn đồng hành cùng ta.

Lưu ý

– Nêu cụ thể khía cạnh mà đề yêu cầu trong mở đoạn. Trong đoạn văn, người viết đã nêu được khía cạnh mà đề yêu cầu: “Tình đồng chí, đồng đội của nhân vật Thanh cùng hai người bạn tri kỉ đã được tác giả Văn Xương khắc họa rõ nét trong đoạn trích “Chiếc thùng phuy đựng cát”.”

– Đưa từ khóa liên quan đến khía cạnh xuyên suốt đoạn văn. Lưu ý, nên có sự đa dạng trong cách diễn đạt để tránh lặp. Ví dụ, với đề bài phân tích tình đồng chí, đồng đội, người viết đã có những cách diễn đạt: “tình bạn thắm thiết, bền chặt”; “một tình đồng đội đáng quý”; “tình đồng chí gắn với sự hi sinh quên mình”. 

– Triển khai những ý nhỏ để làm rõ khía cạnh mà đề yêu cầu (về mức độ/ quá trình/…). Trong đoạn văn, người viết đã cảm nhận tình đồng đội qua ba giai đoạn: thuở sinh viên – trong cuộc sống chiến đấu – khi những người đồng đội của Thanh đã hi sinh. 

– Luôn cố gắng bám sát khía cạnh đề yêu cầu, ngay cả khi nêu thông điệp. Người viết đã đưa ra thông điệp cụ thể về tình bạn: “nhắc nhở mỗi người cần biết trân trọng những tình bạn đáng quý, những người bạn luôn đồng hành cùng ta.” 

Tham khảo bài viết khác tại đây:

NLVH: Cảm nhận về đoạn thơ “Giá từng thước đất”

Xem thêm: