NLVH về tình huống truyện trong truyện ngắn

NLVH Tinh huong truyen trong truyen ngan

Trong truyện ngắn, tình huống truyện được xem là “điểm nút” làm bật lên tính cách nhân vật và tư tưởng của nhà văn. Phân tích Chiếc lược ngà của Nguyễn Quang Sáng, bài viết trên Thích Văn học sẽ giúp bạn hiểu rõ vai trò của tình huống truyện trong việc khắc họa sâu sắc tình cha con giữa hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt. Cùng đọc và tham khảo nha!

Đề bài: 

Khi bàn về tầm quan trọng của tình huống trong truyện ngắn, nhà văn Nguyên Ngọc đã phát biểu tâm đắc: “Truyện ngắn dẫu sao cũng phải ngắn, do đó thủ thuật chủ yếu của truyện ngắn là thủ thuật điểm huyệt […] Truyện ngắn điểm huyệt thực hiện bằng cách nắm bắt trúng những tình huống cho phép phơi bày cái chủ yếu nhưng lại bị che giấu trong muôn mặt cuộc sống hàng ngày”

(Bùi Việt Thắng, “Truyện ngắn – những vấn đề lý thuyết và thực tiễn thể loại”, NXB ĐHQGHN, H. 2000, tr. 114).

Phân tích truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang Sáng để làm sáng tỏ nhận định trên.

Bài làm

Trước những đại lộ, thường có những ngã rẽ, những khúc cua, những ngã tư…. “những ngã tư đời láo nháo nốt chân. Láo nháo cột đèn láo nháo đèn” (Trần Dần)  Những ngã tư láo nháo đưa con người ta sang trang, tạo ra những bước ngoặt, đưa ra những chặng đường mới, buộc ta phải lựa chọn, phải day dứt, phải đấu tranh, phải sống… Trong văn học, cũng có những ngã tư vậy. Đó là tình huống truyện. Nhờ có tình huống truyện mà cuộc đời bằng phẳng thẳng băng bỗng quanh co, khúc khuỷu, muôn mặt của đời sống được phơi trải, hình tượng nhân vật trở nổi hình nổi sắc, ý đồ của tác giả được thể hiện kín đáo. Khi bàn về tầm quan trọng của tình huống trong truyện ngắn, nhà văn Nguyên Ngọc đã phát biểu tâm đắc: “Truyện ngắn dẫu sao cũng phải ngắn, do đó thủ thuật chủ yếu của truyện ngắn là thủ thuật điểm huyệt […] Truyện ngắn điểm huyệt thực hiện bằng cách nắm bắt trúng những tình huống cho phép phơi bày cái chủ yếu nhưng lại bị che giấu trong muôn mặt cuộc sống hàng ngày”. Và tình huống truyện đặc sắc trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng là một minh chứng xác đáng. 

 “Truyện ngắn dẫu sao cũng phải ngắn, do đó thủ thuật chủ yếu của truyện ngắn là thủ thuật điểm huyệt”, ý nói rằng, dung lượng truyện ngắn rất hữu hạn, rất ít, rất ngắn chứ không tràn lan đại hải đến cả nghìn trang, nghìn nhân vật như truyện vừa hay tiểu thuyết. Do đó, nhà văn phải dùng thủ thuật “điểm huyệt” – tức là phải chọn lọc rất đỗi tinh vi, tìm tòi rất công phu, quan sát tinh tường để nhìn cho ra điểm sáng, điểm nổi bật trong cuộc sống, từ đó hắt lọc đưa vào trang giấy. Nhà văn so sánh cuộc đời với một cơ thể sống, và những “huyệt” là những điểm nhạy cảm, khi tác động vào sẽ gây ra những phản ứng mạnh mẽ. Tương tự, trong truyện ngắn, những “huyệt” điểm này chính là những tình huống đặc biệt, tiêu biểu mà nhà văn lựa chọn, nắm bắt để phản ánh trong tác phẩm. Tình huống là hoàn cảnh riêng, tình thế xảy ra truyện, là khoảnh khắc được tạo nên bởi một sự kiện trong truyện mà tại đó, cuộc sống hiện lên đậm đặc nhất và ý đồ tư tưởng của tác giả cũng được bộc lộ sắc nét nhất. Tình huống đó “cho phép phơi bày cái chủ yếu nhưng lại bị che giấu trong khuôn mặt cuộc sống hàng ngày”, tức là truyện ngắn có khả năng khám phá những khía cạnh sâu kín của cuộc sống, những vấn đề mà thường ngày chúng ta ít khi để ý tới. Từ việc đặt nhân vật trong tình huống truyện, những mâu thuẫn của con người, những vấn đề mang tính bản chất, thời đại của cuộc đời mới được thể hiện rõ nét. Nhận định trên đã khẳng định vai trò của tình huống truyện trong phản ánh hiện thực, cuộc sống. 

Cùng thuộc thể loại truyện, song chủ yếu căn cứ vào dung lượng, người ta chia ra thành truyện ngắn, truyện vừa và tiểu thuyết. Truyện ngắn, vì thuộc thể loại tự sự, do đó mang đặc trưng của thể loại tự sự. Tuy nhiên, nó cũng mang những đặc tính riêng biệt độc đáo của mình. Mà điểm đầu tiên cần đề cập tới, đó là sự hạn hữu, sự “eo hẹp” về mặt dung lượng. Truyện ngắn, tất nhiên phải ngắn. Nhân vật trong truyện ngắn không bao giờ hoặc rất ít khi được tái hiện cả cuộc đời một cách cụ thể, chi tiết mà dường như chỉ được quy chiếu trong một khoảnh khắc chớp nhoáng của đời sống. Không gian, thời gian trong các tác phẩm không diễn tiến vô biên mà thường được cóp nhặt, chọn lựa rất kĩ càng, chỉ giữ lại những thời điểm, những không gian nghệ thuật có sức chứa cao, những khoảnh khắc có khả năng dồn nén nhiều nhất ý nghĩa của cuộc sống và số phận nhân vật. Chính vì thế, truyện ngắn không có điều kiện để dàn trải, để “kể hết”, mà buộc phải tập trung, cô đặc. Và trong kết cấu cô đặc ấy, tình huống truyện trở thành hạt nhân nghệ thuật. Nói cách khác, tình huống truyện là điểm hội tụ của mọi giá trị nghệ thuật trong truyện ngắn. Nó quyết định chiều sâu trong tâm hồn của nhân vật, thể hiện sức nặng tư tưởng của tác giả. Tình huống chính là một bước ngoặt lớn trong hệ thống cốt truyện, ở đó, để giải quyết tình huống, nhân vật sẽ dần bộc lộ chính mình, giúp người đọc hiểu hơn về tính cách, tâm hồn của nhân vật ấy. Từ đó, những thăng trầm của cuộc sống hiện lên sắc nét hơn, độc đáo hơn. Chọn lựa tình huống đơn giản, nhàm chán truyện ngắn dễ rơi vào tầm thường; nhưng nếu nắm đúng “huyệt”, như cách Nguyên Ngọc nói, toàn bộ đời sống sẽ bừng lên sắc nét, những điều tưởng chừng bình thường, chìm khuất sẽ hiện ra với vẻ đẹp riêng. 

Nguyễn Quang Sáng là là một trong những cây bút Nam Bộ tiêu biểu của văn học Việt Nam hiện đại. Là cây bút trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ, các tác phẩm của ông hầu hết viết về cuộc sống và con người Nam Bộ trong chiến tranh. Giọng văn của ông hồn hậu, mộc mạc, giản dị, rất đỗi tự nhiên. Tác phẩm “Chiếc lược ngà” được ông sáng tác năm 1966 – khi tác giả hoạt động ở chiến trường Nam Bộ những năm kháng chiến chống Mĩ và được đưa vào tập truyện cùng tên. Một trong những yếu tố tạo nên thành công cho tác phẩm là nghệ thuật tạo dựng tình huống truyện độc đáo.

“Chiếc lược ngà” dựng lên hai tình huống truyện rất độc đáo. Tình huống truyện thứ nhất là cuộc gặp gỡ của hai cha con sau tám năm xa cách. Ông Sáu xa nhà tham gia kháng chiến đã nhiều năm. Vì chiến tranh ác liệt, mỗi lần đi thăm chồng, vợ ông không thể đưa con theo nên suốt thời gian ấy hai cha con ông chỉ được nhìn nhau qua những tấm ảnh. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp trở về thăm gia đình, thăm đứa con gái bé bỏng mà ông hằng mong nhớ. Tuy nhiên, bi kịch xảy ra khi con không nhận cha vì khuôn mặt người cha đã khác do vết sẹo ghê gớm của chiến tranh. Cuộc gặp gỡ sau tám năm chất chứa nhiều nỗi nhớ thương và cả những tréo ngoe của số phận chính là tình huống truyện vô cùng độc đáo, phần nào cho thấy những mảng hiện thực rất xót xa trong chiến tranh, song âm hưởng chủ đạo vẫn là thái độ ngợi ca tình phụ tử vô cùng thiêng liêng, sâu sắc. 

Trước hết, tình huống truyện đã làm nổi bật góc khuất của cuộc chiến với biết bao cảnh huống trớ trêu. Chiến tranh đã chia cắt hạnh phúc gia đình, vợ phải xa chồng, con phải xa cha, biền biệt triền miên hiếm hoi một lần gặp gỡ. “Suốt mấy năm kháng chiến, chị Sáu có đến thăm anh mấy lần”, mà mấy lần đó người vợ cũng phải băng qua“chiến trường miền Đông không đơn giản”. Còn hai cha con ông Sáu, tám năm ròng chưa một lần được gặp mặt trực tiếp. “Lúc đi, đứa con gái đầu lòng của anh – và cũng là đứa con duy nhất của anh, chưa đầy một tuổi”, anh chỉ có tấm ảnh nhỏ của con để an ủi cho nguôi nỗi nhớ thương con mình. Chiến tranh tạo ra nhiều cuộc chia ly. Nhưng trớ trêu nhất là  ngay cả khi được trở về, chiến tranh cũng không cho người lính một hạnh phúc trọn vẹn. Vết sẹo trên khuôn mặt ông Sáu – biểu tượng cho cái khắc nghiệt, tàn nhẫn của bom đạn, đã vô tình trở thành rào chắn khiến bé Thu nhất quyết không nhận cha. Mấy ngày nghỉ phép ngắn ngủi được trở về của người lính, vì lẽ ấy mà vẫn còn cái gì day dứt lắm, nhức nhối và đầy xót xa. 

Song, khi đọc tác phẩm “Chiếc lược ngà”, dễ thấy chủ âm không phải là cái buồn thê lương, bi lụy của chiến tranh mà chính là vẻ đẹp ấm áp, bền bỉ, thiêng liêng, sâu sắc của tình phụ tử. Dù bị con nhiều lần khước từ, ông Sáu vẫn luôn bao dung trong mọi hành động. Từng cử chỉ, từng lời nói, hành động của ông đều làm ta không khỏi cảm động, nghẹn ngào trước tấm lòng vĩ đại của một người cha. Khi nhìn thấy con, ông Sáu “không thể chờ xuồng cập lại bến”, “nhún chân nhảy tót lên, xô chiếc xuồng tạt ra”, “bước vội vàng với những bước dài” để mong được gặp lại con, được nhìn thấy con, được ôm con vào lòng. Những hành động vội vã đó, cuống quít đó, những cử chỉ như vụng về, như lóng ngóng ấy đã phản ánh khát vọng được gặp gỡ, được đoàn tụ, được gặp lại con bùng lên tha thiết, chảy bỏng trong tâm hồn ông Sáu. Mấy ngày nghỉ phép, ông dường như muốn bù đắp cho mọi mất mát, thiếu hụt của tám năm vắng nhà, “suốt ngày ông chẳng đi đâu xa, lúc nào cũng vỗ về con”. Thế nhưng, trớ trêu thay, “càng vỗ về, con bé càng đẩy ra. Anh mong được nghe một tiếng “ba” của con bé, nhưng con bé chẳng bao giờ chịu gọi.” Trước sự bướng bỉnh, cùng nhiều hành động “vô phép”, “hỗn láo” của bé Thu, ông Sáu chỉ buồn, “khe khẽ lắc đầu vừa cười. Có lẽ vì khổ tâm đến nỗi không khóc được, nên anh phải cười vậy thôi.” Có lần tức giận lỡ đánh con, thế mà sau này ở chiến trường, “anh cứ ân hận sao mình lại đánh con, nỗi khổ cứ giày vò anh”. Tất cả những chi tiết ấy đã làm nổi bật phẩm chất cao đẹp của ông Sáu: một người cha giàu tình yêu thương, bao dung, nhẫn nại và yêu thương con vô bờ bến. Bên cạnh đó, tình huống truyện độc đáo cũng tô đậm tình yêu thương vô bờ của bé Thu dành cho cha mình. Tám năm trời đằng đẵng không thể làm phai nhạt tình yêu của bé Thu dành cho người ba trong ký ức, nhưng lại đủ khắc nghiệt để chiến tranh kịp hằn lên gương mặt ông Sáu một vết thẹo tàn nhẫn, khiến đứa trẻ không thể nhận ra cha mình. Khoảnh khắc ông Sáu trở về, tiếng gọi nghẹn đầy thương nhớ: “Thu! Con!” vang lên từ bến sông, vậy mà đáp lại chỉ là đôi mắt tròn xoe ngơ ngác, ánh nhìn lạ lẫm, tiếng thét lên đầy sợ hãi. Suốt ba ngày nghỉ phép, Thu luôn tỏ ra bướng bỉnh, khước từ mọi hành động quan tâm của ông Sáu. Thu không bao giờ gọi ông Sáu là “ba”, chỉ “nói trổng”, gọi ông Sáu là “người ta”, là “ông”. Khi phải chắt nước từ nồi cơm đang sôi trên bếp, nó “nhăn nhó”, “luýnh quýnh”, “loay hoay”, để lộ rõ tâm trạng bối rối, lúng túng. Lúc ấy, Thu đứng giữa hai lựa chọn: hoặc phải cắn răng gọi ông Sáu là “ba” để được giúp đỡ, hoặc tự mình xoay xở dù rất khó khăn và nguy hiểm. Thế mà trong tình huống đó, nó nhất quyết không gọi ông Sáu là “ba”, chỉ nói trổng: “Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!”, “Cơm sôi rồi, nhão bây giờ!”. Khi không nhận được sự giúp đỡ, nó tự mình “loay hoay rồi nhón gót lấy cái vá múc ra từng vá nước” chứ nhất quyết không chịu chấp nhận ông Sáu. Đỉnh điểm nhất, trong bữa cơm cuối cùng với ông Sáu, khi ông Sáu gắp cho nó cái trứng cá, bé Thu đã “liền lấy dũa xoi vào chén, để đó rồi bất thần hất cái trứng ra, cơm văng tung toé cả mâm”. Nhìn bề ngoài, những hành động ấy của bé Thu có thể khiến người đọc lẫn ông Sáu bị tổn thương: lạnh nhạt, ngang bướng, thậm chí như hỗn hào, vô phép. Nhưng khi đặt vào hoàn cảnh cụ thể của đứa trẻ tám tuổi, lớn lên với duy nhất hình ảnh người cha trong bức ảnh chụp ngày cưới mà mẹ luôn giữ gìn, ta mới thấy rằng tất cả sự bướng bỉnh ấy thực chất bắt nguồn từ tình yêu quá lớn dành cho người ba mà nó vẫn luôn gìn giữ trong ký ức. Thu không nhận ra ông Sáu bởi vết thẹo chiến tranh khiến gương mặt ông thay đổi, người đàn ông ấy không khớp với “người ba” mà nó đã tôn thờ bấy lâu. Vì vậy, nó phản ứng bằng bản năng của một đứa trẻ trung thực, sống hết mình với cảm xúc, “tròn mắt ngơ ngác”, “vụt chạy và thét lên”, rồi suốt ba ngày liền chống lại mọi tiếp xúc từ người mà nó xem là… người lạ, có khả năng thế chỗ người ba mà nó hằng yêu kính. Từ chối gọi “ba” không phải vì nó không yêu ông Sáu, mà bởi tiếng gọi ấy là điều thiêng liêng nhất trong trái tim trẻ thơ. Thu không thể tùy tiện trao cho ai khác ngoài “ba” mà nó đã khắc sâu trong tâm trí. Chính sự bướng bỉnh, cứng cỏi ấy, khi được nhìn bằng con mắt thấu hiểu, tự nhiên không hề đáng trách, mà ngược lại, càng làm nổi bật tấm lòng thủy chung, tình yêu thương vô cùng sâu sắc và mãnh liệt của bé Thu đối với ba mình. Đó là nét đẹp tâm hồn trẻ thơ mà Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa đầy tinh tế qua tình huống truyện éo le, giàu kịch tính. Chính tình huống truyện độc đáo đã đẩy các nhân vật trong truyện vào hoàn cảnh buộc phải bộc lộ mình, buộc phải lựa chọn, phải hành động, và từ đó, một cách tự nhiên, bộc lộ những phẩm chất, những đức tính đáng quý, từ đó càng làm nổi bật chủ đề tác phẩm. Nếu như hai cha con gặp nhau, bé Thu ngay lập tức nhận cha, ba ngày nghỉ phép cứ thế trôi qua trong êm đềm, hạnh phúc, tất nhiên người đọc vẫn cảm nhận được tình phụ tử bàng bạc trong tác phẩm, song không thực sự sâu sắc. Khi tình cảm được rèn trong thử thách, kinh qua nhiều khó khăn, trắc trở, tình cảm ấy mới càng đáng giá, thấm thía, sâu sắc, bền vững hơn, cảnh hai cha con nhận nhau mới càng gây ấn tượng mạnh trong tâm hồn độc giả. Do đó, có thể khẳng định, một trong những thành công nổi bật trong “Chiếc lược ngà” chính là ở tình huống truyện kịch tính, độc đáo. 

Tình huống truyện thứ hai là việc ông Sáu dồn tất cả tình yêu thương và lòng mong nhớ đứa con vào việc làm cây lược ngà để tặng con ở khu căn cứ, nhưng lại không may hi sinh khi chưa kịp trao món quà ấy cho con gái. Tình huống này cũng tương tự như tình huống thứ nhất, vừa làm nổi bật bi kịch chiến tranh, vừa khắc sâu ấn tượng về tình phụ tử thiêng liêng qua hình tượng nhân vật ông Sáu. Song, điểm khác biệt cơ bản ở đây là, tình huống này đã dẫn đến cuộc gặp gỡ giữa bác Ba và bé Thu sau này. Tình phụ tử vẫn được được tiếp nối ở tình huống trước đó, song nó được nâng lên ở mức độ cao hơn, nó là tình yêu thương giữa con người với con người. Tình cha con đã hòa quyện với tình yêu nước, với lòng nhân ái. Chính chiếc lược ngà chất chứa tình yêu của người cha đã hi sinh trên chiến trường đã trở thành ngọn lửa cháy âm ỉ trao truyền động lực ra chiến trường cho người con, nối kết tình yêu thương giữa bác Ba và bé Thu – giờ đã trở thành một cô giao liên nhanh nhẹn, dũng cảm xông pha chiến trường.

Nhờ xây dựng một tình huống truyện kịch tính, Nguyễn Quang Sáng đã mở ra chiều sâu tư tưởng cho tác phẩm. Tình huống không chỉ là “điểm huyệt” khơi gợi trong người đọc nỗi xót xa trước những mất mát thời chiến mà còn làm sáng lên vẻ đẹp trường cửu của tình phụ tử. Tình huống đã khiến câu chuyện về một người lính Nam Bộ không chỉ dừng lại ở những mất mát của chiến tranh mà trở thành một khúc ca bất tử về tình cảm gia đình. Nhờ vậy, truyện ngắn của Nguyễn Quang Sáng trở thành minh chứng thuyết phục cho nhận định của Nguyên Ngọc: truyện ngắn chỉ thật sự sống khi nhà văn biết điểm đúng “huyệt” của đời sống, để trong khoảnh khắc ngắn ngủi mà hé mở trọn vẹn vẻ đẹp ẩn giấu của con người và cuộc đời.

Nhận định của Nguyên Ngọc để lại bài học sâu sắc cho cả người sáng tác lẫn người đọc. Một tình huống nghệ thuật có sức ám ảnh chỉ được tạo nên khi người viết có con mắt tinh đời, khả năng quan sát những chuyển động tinh vi của đời sống, cùng vốn trải nghiệm đủ đa dạng, phong phú. Quan trọng hơn, anh phải có trái tim nhân đạo và tư duy nhạy bén, sâu sắc để kín đáo gửi gắm thông điệp nhân văn đằng sau tình huống nghệ thuật đã khởi tạo. Với người tiếp nhận, việc đọc văn đòi hỏi sự hiểu biết, tâm hồn nhạy cảm, phải nhận ra được đâu là sự kiện tiêu biểu, đâu là điểm sáng trong tác phẩm, từ đó ngẫm ngợi, suy tư và mở lòng đón nhận những thông điệp sâu sắc từ tác giả.

Tình huống truyện là yếu tố cơ bản làm nên sức hấp dẫn của thể loại truyện ngắn. Tình huống truyện chính cú hích, là điểm chạm nơi số phận, tính cách và mọi lớp trầm tích của đời sống bất ngờ bật mở. Đó là những ngã tư. Đó là những cột đèn. Và chính ở khoảnh khắc ấy, truyện ngắn tìm thấy linh hồn của mình, như Nguyễn Minh Châu viết:  “Tình huống là cái sống còn của truyện ngắn”. Nhờ có tình huống truyện, truyện ngắn mới thực là truyện ngắn! 

Tham khảo bài viết khác tại đây:

NLVH về nhân vật trong tác phẩm hồi kí

Xem thêm: