Ngôn ngữ thơ ca không chỉ là phương tiện diễn đạt mà còn là linh hồn của tác phẩm, kết tinh trong hình thức nghệ thuật độc đáo để truyền tải tư tưởng sâu xa. Bài viết từ Thích Văn học sẽ giúp bạn làm sáng tỏ nhận định: Vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ chỉ thực sự tỏa sáng khi gắn liền với nội dung tư tưởng. Thông qua việc phân tích bài thơ Bàn giao của Vũ Quần Phương, chúng ta sẽ thấy được cách nhà thơ dùng ngôn từ giản dị mà gợi cảm để gửi gắm tình yêu cuộc sống, sự tiếp nối giữa các thế hệ và thông điệp nhân văn sâu sắc.
Đề bài:
Có ý kiến cho rằng: “Vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ là vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật, nhưng hình thức nghệ thuật ấy chỉ đẹp khi được nhà thơ sáng tạo ra để chuyển tải một nội dung tư tưởng sâu sắc”. Làm sáng tỏ nhận định trên qua việc phân tích bài thơ sau:
“Rồi ông sẽ bàn giao cho cháu
bàn giao gió heo may
bàn giao góc phố
có mùi ngô nướng bay
Ông sẽ chẳng bàn giao những ngày vất vả
sương muối đêm bay lạnh mặt người
Tham khảo: Sách Chuyên đề lý luận văn học
đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc
ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi
Ông bàn giao tháng giêng hương bưởi
cỏ mùa xuân xanh dưới chân giày
bàn giao những mặt người đẫm nắng
đẫm yêu thương trên trái đất này
Ông chỉ bàn giao một chút buồn
ngậm ngùi một chút, chút cô đơn
câu thơ vững gót làm người ấy
ông cũng bàn giao cho cháu luôn”
23-11-2003
(Vũ Quần Phương, Bàn giao)
Bài làm
“The first word I would strike from the annals of journalism is the word objective..” (Từ đầu tiên tôi muốn xóa khỏi lịch sử ngành báo chí chính là từ “khách quan”), đó là tuyên ngôn của M. Smith trong chuyến đi tới Minamata – nơi tạo nên bộ ảnh để đời trong sự nghiệp của nhiếp ảnh gia lừng danh này. Một trong số đó, “Tomoko Uemura in Her Bath” đã từng khuấy đảo giới nghệ thuật, làm dậy lên cơn sóng mạnh mẽ trên khắp thế giới. Trong khung hình đen trắng với nhân vật trung tâm là một người mẹ đang bế đứa con gái dị tật của mình, phải chăng thứ hấp dẫn người xem là bố cục cân xứng của bức ảnh, là màu ảnh trắng đen bí ẩn? Tôi cho rằng nó là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Mảnh ghép căn bản giúp cho bức ảnh này trở thành một hiện tượng đó là lòng trắc ẩn của Smith, là nỗi đau của chính nhiếp ảnh gia này trước bi kịch của những người mắc bệnh Minamata. Nghệ thuật cần có chút kĩ xảo nhưng không chỉ có kĩ xảo, nghệ thuật còn cần trái tim của người nghệ sĩ. Và thi ca – một thể loại của văn học nghệ thuật không nằm ngoài quy luật đó. Có ý kiến cho rằng: “Vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ là vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật, nhưng hình thức nghệ thuật ấy chỉ đẹp khi được nhà thơ sáng tạo ra để chuyển tải một nội dung tư tưởng sâu sắc”. Tác phẩm “Bàn giao” của Vũ Quần Phương là một minh chứng xác đáng.
Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng dào dạt, những cảm xúc chất chứa, mạnh mẽ, bằng ngôn từ hàm súc, giàu hình ảnh, có nhịp điệu. Vẻ đẹp của ngôn ngữ thơ là vẻ đẹp của hình thức nghệ thuật, vẻ đẹp của ngôn ngữ gợi hình, gợi cảm, giàu tính họa, tính nhạc; được tạo nên bởi các yếu tố về từ ngữ, hình ảnh, nhịp điệu, biện pháp tu từ,….. Còn nội dung tư tưởng là thế giới quan, những suy tư, ngẫm ngợi, trăn trở được thể hiện qua cách nhận thức, lý giải về đề tài, chủ đề mà tác giả muốn trao đổi, gửi gắm, đối thoại với người đọc. Như vậy, ý kiến trên đã nêu lên yêu cầu đối với một tác phẩm nghệ thuật đích thực: phải kiện toàn về mặt nội dung và hình thức, vừa có một hình thức nghệ thuật độc đáo, vừa chuyển tải nội dung tư tưởng sâu sắc.
Trong một tác phẩm văn học có giá trị, nội dung và hình thức luôn thống nhất khăng khít, liên hệ biện chứng với nhau. Nội dung là chủ đề, đề tài, là tư tưởng, tình cảm của người viết, là thế giới hiện thực được hiện hình trên trang giấy. Một tác phẩm văn học không thể không có nội dung, vì như vậy thì văn chương thành ra vô nghĩa, vô giá trị. Văn học muốn thực hiện thiên chức và sứ mệnh của mình, muốn nhân đạo hóa con người, cải tạo đời sống thì phải kiến tạo một nội dung hay, độc đáo, mới mẻ để đủ sức hấp dẫn, thu hút người đọc. Nhưng làm cách nào để chuyển tải những ý niệm đó đến với người đọc, làm thế nào để cụ thể hóa nội dung từ dạng những ngẫm ngợi, suy tư thành yếu tố vật chất có thể cảm, có thể hiểu, có thể giao tiếp với người khác? Đó là nhiệm vụ của hình thức nghệ thuật, của ngôn ngữ thơ. Hình thức chính là phương tiện, cách thức thể hiện nội dung. Và do đó, một tác phẩm văn học thực thụ càng không thể không có hình thức nghệ thuật độc đáo. Bởi nếu không được thể hiện dưới một hình thức nghệ thuật độc sáng thì dù nội dung có hay đến đâu, mới mẻ đến đâu cũng không đủ sức lôi cuốn độc giả, khiến cho tác phẩm một màu, nhàm chán, đơn điệu. Sự thống nhất giữa nội dung và hình thức được biểu hiện ở hai mặt: nội dung quyết định hình thức và hình thức phù hợp với nội dung. Nội dung là cái có trước, là khởi đầu của quá trình sáng tạo. Sau khi đã nung nấu trong mình những ý tưởng, hình thành những chủ đề, đề tài, nhà văn mới tìm kiếm những hình thức – những vỏ ngôn ngữ phù hợp để thể hiện nội dung biểu đạt. Hình thức là để biểu hiện nội dung, hình thức phải phù hợp, thống nhất, gắn bó với nội dung. Tuy nhiên, nói thế không đồng nghĩa rằng hình thức là nô lệ của nội dung, kém quan trọng hơn nội dung, mà thực chất cũng có tính độc lập tương đối, có vai trò và giá trị của riêng mình.
Vũ Quần Phương là một bác sĩ nhưng lại có niềm yêu thích mãnh liệt với văn chương. Ông sáng tác thơ, phê bình văn học, và đặc biệt có những thành tựu quan trọng ở mảng thơ ca. Thơ ông giản dị, sâu sắc mà hóm hỉnh, đầy suy tư, ngẫm ngợi, ăm ắp trữ tình. Tác phẩm Bàn giao là một minh chứng cho phong cách Vũ Quần Phương, tỏa sáng vẻ đẹp ngôn ngữ thơ ca và nội dung tư tưởng sâu sắc.
“Bàn giao” là một thi phẩm, do đó, bài thơ trước hết đã tỏa sáng với vẻ đẹp ngôn ngữ thơ ca hết sức độc đáo. Tác phẩm sử dụng thành công thể thơ tự do với nhịp điệu linh hoạt, tiết tấu trong thơ lúc nhanh lúc chậm giúp cho mạch vận động cảm xúc của nhân vật trữ tình được bộc lộ một cách uyển chuyển, trực tiếp, chân thành mà vẫn dung dị, gần gũi. Ngôn ngữ thơ Vũ Quần Phương nhìn chung giản dị, mộc mạc, dễ hiểu, không đánh đố hay quá mức cầu kì, hoa mĩ. Ngay ở cách xưng hô “ông” – “cháu” trong bài thơ cũng đã rất đỗi tự nhiên, như lối nói thường ngày, không có gì lạ lẫm với bạn đọc. Bài thơ cứ lặng lẽ trôi, không có một chữ nào trúc trắc, gập ghềnh bởi tác giả sử dụng những từ ngữ toàn dân, quen thuộc trong giao tiếp hàng ngày. Dường như sự dung dị ấy giúp cho độc giả thấy thân thương hơn, gần gũi hơn và do đó rất nhanh chóng nhập thân vào mạch vận động cảm xúc trong bài thơ. Trong thi phẩm, Vũ Quần Phương cũng đã sử dụng thành công nhiều biện pháp nghệ thuật đặc sắc như liệt kê (gió heo may, góc phố, ngô nướng bay, …), điệp ngữ (ông, bàn giao,..) góp phần làm nổi bật trục vận động xuyên suốt của bài thơ: sự trao truyền tình cảm giữa các thế hệ, tình yêu thương vô biên của ông đối với cháu. Thơ bao giờ cũng tồn tại với một hệ thống hình ảnh có khả năng gây ấn tượng mạnh mẽ, tác động sâu xa vào trí tưởng tượng và cảm nghĩ của người đọc. Tính họa của ngôn ngữ thơ nằm trong chuỗi những sáng tạo hình ảnh mang vẻ đẹp trực quan, sinh động. Trong “Bàn giao”, Vũ Quần Phương đã lựa chọn những hình ảnh hết sức đời thường, giản dị, khéo léo gọi dậy miền kí ức quen thuộc đang trú ngụ trong trí nhớ của mỗi người: “gió heo may”, “góc phố”, “mùi ngô nướng bay”, “hương bưởi tháng giêng”, “mùa xuân xanh”,… Những chi tiết ấy không phải là những hình ảnh trừu tượng, xa lạ mà là những mảnh ghép thân quen của đời sống. Qua cách sắp đặt liên tiếp, lớp lớp, chúng hiện lên như dòng chảy của thời gian, khơi gợi những suy tư, chiêm nghiệm trong lòng người. Giọng điệu cũng là một điểm sáng nghệ thuật trong thi phẩm. Chủ âm vẫn là giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, thiết tha như lời ông nói với cháu trong đời thường. Các câu thơ không dồn dập, không gay gắt mà nhẹ nhàng, chậm rãi, như dòng chảy bình thản của một người từng trải muốn truyền lại những điều quý giá cho thế hệ sau. Trong mạch thơ, có sự hòa quyện giữa niềm vui và nỗi buồn: vui vì được trao cho cháu những vẻ đẹp tinh khiết, thân thương của đời sống; buồn vì vẫn còn đó chút ngậm ngùi, cô đơn của kiếp người. Chính sự đan xen này làm giọng thơ vừa hồn hậu, trìu mến, vừa man mác, sâu xa. Điều đặc biệt là, dù chất chứa nhiều chiêm nghiệm triết lý nhưng giọng thơ không hề nặng nề mà vẫn dung dị, tự nhiên, gợi ra tình thương vô bờ bến của ông đối với cháu.
Hình thức nghệ thuật trong “Bàn giao” không biệt lập mà góp phần chuyển tải nội dung tư tưởng sâu sắc. Mượn lời tâm tình, giãi bày của ông với cháu, “Bàn giao” đã gói ghém những tâm tư, trăn trở và nỗi lòng của Vũ Quần Phương. Nhân vật người ông đã bàn giao những gì gần gũi, thiêng liêng nhất:
“Rồi ông sẽ bàn giao cho cháu
bàn giao gió heo may
bàn giao góc phố
có mùi ngô nướng bay”
Khi bàn giao một điều gì đó, ta hiểu đó là việc hệ trọng, quan trọng, rất cần thiết và cần được đặt trong một không gian trang nghiêm. Thứ được bàn giao thường là vật chất và ắt hẳn phải rất giá trị, rất đặc biệt, rất quý giá. Nhưng Vũ Quần Phương dường như đã phá vỡ lối mòn suy nghĩ thông thường để đem đến một cái nhìn dung dị hơn, thiêng liêng hơn về điều ấy. Bàn giao trong trường hợp này không phải là sự trao lại, gửi lại món đồ vật chất thông thường mà là giao phó nghĩa vụ, trách nhiệm, sự trao gửi tình cảm và niềm tin yêu giữa ông và cháu. Ở đoạn thơ đầu tiên, ông đã bàn giao cho cháu những gì gần gũi, quen thuộc nhất trong đời sống hàng ngày. Đó là ngọn gió heo may tràn vào góc phố mỗi độ sang thu, là mùi ngô nướng bay trong không gian mỗi độ đông về. Tất cả đều là những hình ảnh có khả năng lay động, khơi gợi cảm xúc mãnh liệt. “Gió heo may”, “góc phố”, “mùi ngô nướng bay” không chỉ gợi tả cảnh sắc, hương vị đặc trưng của từng mùa mà còn khơi dậy những miền kí ức thân thương, ấm áp trong lòng người đọc. Đó là những mảnh ghép nhỏ bé nhưng làm nên hồn cốt của cuộc sống, của quê hương, của tuổi thơ mỗi người. Dường như, khi bàn giao cho cháu những hình ảnh ấy, ông không chỉ muốn gợi lại vài nét đẹp quen thuộc của đời sống, mà còn kín đáo gửi gắm một lời nhắn nhủ: hãy biết trân trọng mọi điều nguyên sơ, bình dị, giản đơn, nhỏ bé quanh mình. Đó là những khoảnh khắc, những kí ức tưởng chừng rất đỗi đời thường như làn gió heo may, góc phố quen, mùi ngô nướng bay… nhưng chính chúng mới làm nên vẻ đẹp của cuộc sống và để lại dấu ấn sâu đậm trong ký ức con người. Thơ Vũ Quần Phương vì thế vừa giản dị, vừa sâu xa. Giản dị bởi ngôn từ gần gũi, hình ảnh thân quen, sâu xa bởi trong những điều tưởng như nhỏ bé ấy lại ẩn chứa triết lý sống sâu sắc.
Nếu ở đoạn thơ đầu, ông “bàn giao” cho cháu những hình ảnh bình dị, trong trẻo và giàu sức gợi của đời sống, thì ở đoạn thơ thứ hai, ông lại khẳng định:
“Ông sẽ chẳng bàn giao những ngày vất vả
sương muối đêm bay lạnh mặt người
đất rung chuyển, xóm làng loạn lạc
ngọn đèn mờ, mưa bụi rơi.”
Ở đây, có sự chuyển giọng phù hợp: từ giọng điệu thiết tha, trong trẻo, câu thơ bất chợt lặng lại, trở nên trầm lắng, xót xa, nghẹn ngào. Những hình ảnh “sương muối”, “đất rung chuyển”, “xóm làng loạn lạc”, “ngọn đèn mờ”, “mưa bụi rơi” gợi nhắc về nỗi vất vả, cơ cực, những mất mát đau thương mà thế hệ ông đã từng trải qua. Bởi đã đi qua những ngày đất nước chìm trong bom đạn, đói nghèo và loạn lạc, ông thấm thía đến tận cùng nỗi thương đau của Tổ quốc. Chiến tranh ác liệt quá, tàn nhẫn quá, kinh khủng quá! Chính vì thế, với tình yêu thương chan chứa, ông chỉ mong con cháu mình được lớn lên trong yên bình, không phải nếm trải cái đói, cái rét, không phải vật lộn để giành giật sự sống trong những năm tháng đạn nổ, bom rơi. Sự “không bàn giao”, do đó, không phải là sự bội ơn với quá khứ mà chính là một cách thể hiện tình thương, một sự che chở âm thầm của ông dành cho cháu. Ẩn sau hình ảnh một người ông nhân hậu, bao dung là khát vọng muôn đời của dân tộc: khát vọng giữ cho con cháu một khoảng trời không còn tiếng bom đạn, một cánh đồng không còn dấu tích đổ nát, một mái nhà không còn bóng loạn lạc, hay nói một cách ngắn gọn hơn, đó là khát vọng “Muôn thuở nền thái bình vững chắc” (Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi), cất cao mong ước hòa bình.
Sau khoảng lặng chiến tranh, câu thơ một lần nữa chuyển mình, giọng điệu trở lại âm hưởng sáng trong, tâm tình, thiết tha. Trên nền ký ức đau thương vừa khép lại, nhà thơ mở ra một không gian ngập tràn ánh sáng và hương sắc:
“Ông bàn giao tháng giêng hương bưởi
cỏ mùa xuân xanh dưới chân giày
bàn giao những mặt người đẫm nắng
đẫm yêu thương trên trái đất này.”
Những hình ảnh “tháng giêng hương bưởi”, “cỏ mùa xuân xanh”, “mặt người đẫm nắng” hiện lên tràn đầy sức sống, gợi mở một không gian ngập tràn hương vị, sắc màu và ánh sáng. Đó là thiên nhiên tươi mới, là mùa xuân bất tận, là sức sống của đất trời hòa cùng tình người ấm áp. Nếu ở đoạn đầu, ông trao cho cháu những ký ức quen thuộc, bình dị của đời sống, thì đến đây, ông gửi gắm cả một mùa xuân – mùa khởi đầu, mùa của hy vọng, mùa của tuổi trẻ. Cùng với thiên nhiên là hình ảnh “những mặt người đẫm nắng”, gương mặt mang vẻ đẹp của những người lao động chân lấm tay bùn, thuần hậu mà chất phác. Điều đặc biệt ở đây là, trong sự vất vả và lao nhọc của công cuộc mưu sinh, hình ảnh “những mặt người đẫm nắng” mang một nét gì rất thơ mộng, mênh mang. Ánh nắng ở đây không chỉ là cái nắng chói chang của thiên nhiên làm rát mặt người mà đã hóa thành ánh sáng của tình yêu thương, của niềm tin và sức sống. Những con người lao động đó, dù vất vả, lao nhọc gian khổ nhưng vẫn luôn giữ trong mình trái tim thiên lương và tình người ấm áp. Tất cả những hình ảnh thơ trong trẻo ấy, phải chăng đang cất chứa sự “bàn giao” đầy tình yêu của ông về niềm hy vọng, niềm tin bát ngát rộng mở vào cuộc sống? Cuộc đời này dẫu không dễ dàng trôi xuôi, nhưng không bao giờ là cùng đường tuyệt lộ, luôn có một mùa xuân mới, ánh sáng mới và tình yêu thương không ngừng tuôn đổ trên trái đất này. Và dù có ra sao, hãy luôn giữ vững tinh thần lạc quan và hy vọng vào chặng đường tương lai phía trước.
Một lần nữa, bài thơ có sự chuyển giọng để kết lại những tâm tư, chiêm nghiệm lắng đọng về đời sống:
“Ông chỉ bàn giao một chút buồn
ngậm ngùi một chút, chút cô đơn
câu thơ vững gót làm người ấy
ông cũng bàn giao cho cháu luôn”
Đến đoạn cuối, giọng thơ chậm lại, trầm lắng và giàu chiêm nghiệm. Ông không chỉ “bàn giao” cho cháu niềm vui và hạnh phúc, mà còn trao lại cả những nỗi buồn, sự ngậm ngùi, chút cô đơn. Đó là những cảm xúc không thể thiếu trong đời sống con người. Chúng không bị phóng đại thành bi kịch, mà chỉ là “một chút” , vừa đủ để nhắc nhở cháu rằng cuộc đời không bao giờ toàn vẹn, và phải học cách chấp nhận để trưởng thành. Ông không hề tô hồng cuộc sống, mà chuẩn bị cho cháu một hành trang thực tế, để cháu đủ bản lĩnh đối diện với mọi thử thách trong cuộc đời. Cuối cùng, ông bàn giao cho cháu “câu thơ vững gót làm người”. Thơ ở đây không còn chỉ là nghệ thuật ngôn từ, mà là chỗ dựa tinh thần, là kinh nghiệm sống được đúc rút từ cả một đời từng trải. Hai chữ “vững gót” nhấn mạnh sự kiên định, bản lĩnh để con người không chao đảo trước biến động. Khi bàn giao cho cháu “câu thơ vững gót làm người”, ông muốn cháu có một điểm tựa chắc chắn trong hành trình trưởng thành: đó là nhân cách, là bản lĩnh sống, mong ước cháu luôn gìn giữ trong mình những phẩm chất cao đẹp của con người, luôn vững vàng trên hành trình sắp tới.
Như vậy, một bài thơ hay luôn cần sự hòa quyện nhuần nhị giữa chiều sâu tư tưởng và vẻ đẹp hình thức nghệ thuật. “Bàn giao” của Vũ Quần Phương là một thi phẩm tiêu biểu cho sự kết hợp ấy: vừa giản dị mà vừa sâu xa, vừa gần gũi đời thường mà lại thấm đẫm triết lý nhân sinh. Ý niệm về sự tiếp nối giữa các thế hệ, về tình thương, niềm tin và trách nhiệm mà người đi trước gửi gắm cho người sau đã được nhà thơ gửi gắm qua những hình ảnh bình dị, thân thuộc của đời sống thường ngày, bằng thứ ngôn ngữ mộc mạc mà giàu sức gợi. “Bàn giao” vì thế trở thành minh chứng rõ rệt cho sự hòa quyện tài tình giữa ngôn ngữ thơ và nội dung tư tưởng, để từ đó gợi mở cho người đọc những suy ngẫm sâu xa về lẽ sống.
Ý kiến trên đã khẳng định rõ thiên chức của nhà văn cũng như quá trình sáng tạo nghệ thuật, đồng thời nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng giữa nội dung và hình thức trong tác phẩm văn chương. Để từ đó, ta rút ra bài học cho cả người sáng tác và người tiếp nhận. Với người sáng tác, cần ý thức rằng văn chương là kết quả của một quá trình lao động miệt mài bằng trí óc và con tim, để mỗi tác phẩm ra đời vừa là một phát minh về hình thức vừa là một khám phá về nội dung. Trong hành trình sáng tạo ấy, nhà văn, nhà thơ không chỉ nuôi dưỡng bởi tư tưởng, tình cảm mãnh liệt mà còn phải đặc biệt chú trọng đến nghệ thuật biểu đạt, để tác phẩm thực sự sống lâu bền trong lòng người đọc. Với người tiếp nhận, việc đọc không chỉ dừng lại ở sự thưởng thức đơn thuần, mà cần một thái độ nhập tâm, đọc bằng cả trái tim và trí tuệ để vừa thấu hiểu giá trị tư tưởng vừa cảm nhận được những độc sáng nghệ thuật. Qua đó, người đọc không ngừng tự soi chiếu, phản tỉnh bản thân, hoàn thiện nhân cách, sống nhân văn, tốt đẹp và sâu sắc hơn.
Và như thế, cũng giống như quan niệm của Xuân Quỳnh, ví thơ như một người con gái đẹp “cái để người ta làm quen là nhan sắc, nhưng cái để sống với nhau lâu dài lại là đức hạnh”, ngôn ngữ là nhan sắc ban đầu để người đọc rung động, nhưng chỉ khi trong đó hàm chứa một chiều sâu tư tưởng nhân sinh, thơ mới có thể neo giữ tâm hồn con người, đi cùng năm tháng. Đó cũng chính là phẩm chất làm nên giá trị đích thực và sức sống lâu bền của thi ca nói riêng và nghệ thuật nói chung, giúp cho tác phẩm được lưu truyền mãi mãi.
Tham khảo bài viết khác tại đây:
Vai trò của tình huống trong tác phẩm
Xem thêm:
- Lớp văn cô Ngọc Anh trực tiếp giảng dạy tại Hà Nội: Tìm hiểu thêm
- Tham khảo sách Chuyên đề Lí luận văn học phiên bản 2025: Tủ sách Thích Văn học
- Tham khảo bộ tài liệu độc quyền của Thích Văn học siêu hot: Tài liệu
- Đón xem các bài viết mới nhất trên fanpage FB: Thích Văn Học



