Giễu người thi đỗ là bài thơ trào phúng tiêu biểu của Trần Tế Xương, thể hiện cái nhìn châm biếm sâu cay trước thói hư danh và thực trạng xã hội thời bấy giờ. Ở bài viết này, Thích Văn học gửi bạn đề Đọc hiểu cho văn bản này, giúp bạn hiểu sâu hơn nghệ thuật trào phúng và thông điệp phê phán của tác giả. Cùng đọc và tham khảo nhé!
ĐÁP ÁN THAM KHẢO
| Phần | Câu | Nội dung | Điểm |
|
I | ĐỌC HIỂU: GIỄU NGƯỜI THI ĐỖ (TRẦN TẾ XƯƠNG) | 4.0 |
| 1 | – Bài thơ được viết theo thể loại thơ trào phúng. – Bố cục bài thơ có thể chia làm 2 phần: - Phần 1: 2 câu thơ đầu: Thái độ chán nản của các sĩ tử nói chung, đặc biệt là những người không đỗ đạt.
- Phần 2: 2 câu cuối: Thực tế đáng hổ thẹn của các sĩ tử đỗ đạt.
| 0.5 |
| 2 | – Trong hai câu thơ đầu, nhà thơ sử dụng các từ: “một đàn thằng hỏng”, “nó” – Sắc thái: mỉa mai, châm biếm, giễu cợt - “Một đàn thằng hỏng”: cách gọi mang tính miệt thị, khinh bỉ. “Đàn” dùng cho súc vật, “thằng” là từ gọi trống, không tôn trọng, “hỏng” là những người thi rớt. Đây là cách nói mỉa mai những kẻ không đủ tài nhưng vẫn theo đuổi con đường khoa cử.
- “Nó”: thể hiện thái độ thiếu tôn trọng, hàm ý châm biếm, giễu cợt.
| 1.0 |
| 3 | – Phép đối được sử dụng trong hai câu “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt/ Dưới sân ông cử ngẩng đầu rồng”. Đối: Trên – dưới; ghế – sân; bà đầm – ông cử; ngoi đít vịt – ngẩng đầu rồng. – Hiệu quả nghệ thuật: - Tăng tính nhịp nhàng, cân xứng trong cấu trúc câu thơ, làm cho bài thơ chặt chẽ về hình thức, góp phần tạo nên một bức tranh biếm họa sắc nét, dễ nhớ, dễ đọc và đầy ấn tượng.
- Nhấn mạnh sự đối lập giữa quyền lực thực dân và thân phận thấp kém của sĩ tử Việt Nam, người đỗ đạt ngày xưa (ông cử) nay phải ngẩng đầu nhìn người cai trị ngoại bang (bà đầm) với tư thế phục tùng.
- Thể hiện thái độ giễu cợt, châm biếm, mỉa mai của tác giả trước sự thay đổi của giá trị xã hội, nơi mà kẻ có thực tài thì bị xem nhẹ, còn những kẻ dựa vào quyền thế ngoại bang lại có chỗ đứng.
| 1.0 |
| 4 | – Tiếng cười trào phúng mang giọng điệu : Mỉa mai, châm biếm sâu cay. – Dấu hiệu: - Cách gọi các sĩ tử bằng cụm từ như “thằng hỏng”, “nó”.
- Sử dụng hình ảnh gây cười: “ngoi đít vịt”, “ngỏng đầu rồng”.
- Phép đối thể hiện sự tương phản giữa “bà đầm” – “ông cử”, giữa tư thế “ngồi” và “ngẩng” để bộc lộ sự đảo lộn giá trị xã hội.
– Các sĩ tử đỗ đạt trở thành đối tượng bị chế giễu vì trong bối cảnh xã hội nửa thực dân nửa phong kiến, việc thi cử Nho học không còn được đề cao, các chức quan không còn có thực quyền nhưng nhiều người vẫn lao vào tìm kiếm mộng công danh, để rồi trở thành bù nhìn tay sai cho giặc. Họ bị chế giễu vì đã đánh mất phẩm giá của kẻ sĩ, biến mình thành những “tiến sĩ giấy” không có linh hồn. | 1.0 |
| 5 | HS nêu suy nghĩ theo quan điểm cá nhân. HS nên trả lời dưới hình thức đoạn văn ngắn từ 7-10 câu. Gợi ý: – Nếu em đã có động cơ học tập đúng đắn: - Nêu động cơ học tập đúng đắn (Em học vì mục đích gì?)
- Để phát huy động cơ học tập đúng đắn ấy, em cần: giữ vững tinh thần tự giác, kiên trì, chủ động trong học tập; xác định rõ mục tiêu học tập lâu dài; kết hợp lý thuyết với thực hành; giữ thái độ khiêm tốn, cầu thị trong học tập;…
– Nếu em chưa có động cơ học tập đúng đắn: - Nêu lí do khiến em chưa xác định đúng động cơ học tập
- Để khắc phục hiện trạng đó, em cần: xác định mục tiêu phù hợp với bản thân; tìm ra niềm yêu thích trong từng môn học; xây dựng kế hoạch học tập gắn với định hướng nghề nghiệp tương lai;…
| 1.0 |
Tham khảo các bài viết khác tại đây:
Đọc hiểu văn bản “Ông phỗng đá”
Dàn ý NLXH: Trách nhiệm với nơi mình sinh sống
Xem thêm: