Đoạn văn Nghị luận văn học 200 chữ tiêu biểu (Phần 1)

Doan NLVH 200 chu tieu bieu phan 1

Thời gian này, Trạm Văn sẽ khởi động series văn học với chủ đề: “Đoạn văn nghị luận văn học 200 chữ tiêu biểu”. Đây là chuỗi bài viết được Trạm Văn xây dựng nhằm đồng hành cùng các bạn học sinh trong quá trình rèn luyện kỹ năng viết đoạn NLVH – một dạng bài quan trọng trong kỳ thi vào 10 môn Ngữ văn.

Trong mỗi phần, Trạm Văn sẽ giới thiệu những đoạn văn mẫu đặc sắc, bám sát yêu cầu đề bài được đi kèm với dàn ý chi tiết để giúp bạn dễ dàng hình dung cách triển khai ý tưởng. Hy vọng series này sẽ là người bạn đồng hành đáng tin cậy, tiếp thêm cho bạn sự tự tin và cảm hứng trên hành trình chinh phục môn Ngữ văn.

Trạm Văn cảm ơn các bạn rất nhiều, vì vẫn luôn ở đây, ủng hộ, yêu thương chúng tớ 💗

Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích nhân vật người bà trong văn bản “Bát canh của bà”

BÁT CANH CỦA BÀ

[…] Kỉ niệm đậm nét nhất trong tôi về bà ngoại là hôm bà cho chúng tôi ăn bữa canh cua nấu với rau tập tàng. Rau tập tàng có nghĩa là các loại rau hỗn hợp, phần lớn là mọc hoang. Tôi xin đi theo bà để hái rau. Bà chỉ cho tôi từng loại rau một. Đây là cây dền cơm mọc từng bụi, lá xanh, có hoa lấm tấm ở đầu nhánh. Đây là rau đay, cọng tía, lá dài hình mắt người. Nơi rau dền và rau đay mọc thường có các loại châu chấu, cào cào sinh sống; tôi quên cả hái rau để vồ bắt lấy chúng, khiến bà tôi phải nhắc. Đây là rau sam mọc lan từng khóm sát đất, lá nhỏ như tai chuột mà dày, trên xanh dưới tía, hoa vàng li ti. Đây là dây mùng tơi leo trên bụi chuối, hàng chục ngọn ngóc lên tinh nghịch như cùng nhau chơi trốn tìm, từng chuỗi hoa trắng như hạt cườm, quả chín màu tím đậm. Bà tôi và tôi đã hái đầy một rổ. 

Bà bảo tôi:

– Cháu đợi bà hái ít bông thiên lý, bát canh có nó thơm và mát lắm.

Bà ra gần bờ ao, nơi có giàn thiên lý bà trồng. 

[…] Bà tôi hái xuống một nắm hoa thiên lý, chùm đang nụ, chùm nở màu vàng xanh, hương thơm ngọt lịm. 

Sau đó, bà ra cầu ao rửa rau và đi làm cua. Cua bà bắt là cua bò nắng. Tiết tháng sáu ta, nắng gắt nung đốt làm nước ruộng sủi tăm, những con cua phải bò lên thân cây lúa trốn nóng. Bà ngoại bắt chúng khá dễ dàng. Trong giỏ của bà có đến năm chục con, con mai vàng, con mai màu xanh đá, con nào con nấy đều giương càng lên như để dọa tôi. Ấy thế mà bà trị được hết, chả con nào cắp được vào ngón tay bà.

Tôi thật không sao quên được bữa cơm chiều hôm ấy. Chỉ có món canh cua nấu rau tập tàng và cà muối, với một niêu cơm gạo đỏ. Bà ơi, đã gần sáu chục năm qua, cháu vẫn nhớ bát canh của bà, gạch cua béo ngậy, các loại rau thơm và mát, quả cà giòn tan, còn cơm bà nấu sao mà bùi và ngọt thế. Bà cứ tủm tỉm ngồi nhìn cháu ăn, bà quạt cho cháu bằng mo cau nữa.

Bây giờ thì quê ta giàu có hơn, khác hẳn trước rồi. Bà đã có một đàn cháu, chắt, chút, chít được nuôi nấng và học hành tử tế. Rau có bây giờ nhiều loại hơn trước. Thức ăn cũng sẵn. Nhưng quên làm sao được nồi canh rau tập tàng ngày ấy, ngọt ngào lòng thơm thảo của bà.

(Những truyện hay viết cho thiếu nhi, Vũ Tú Nam, trang 188-190, NXB Kim Đồng, 2015)

Dàn ý chi tiết

1. Mở đoạn:

– Dẫn dắt, giới thiệu khái quát về tác giả và văn bản “Bát canh của bà”

– Nêu cảm nhận chung và những ấn tượng sâu sắc về nhân vật người bà

2. Thân đoạn:

– Nội dung

  • Người bà cần cù, tảo tần và am hiểu thiên nhiên:
    • Bà hái rau, bắt cua, nấu ăn bằng những nguyên liệu dân dã, gần gũi với thiên nhiên.
    • Bà hiểu rõ từng loại rau: rau đay, rau sam, mùng tơi, dền cơm…
    • Hành động “bắt cua”, “hái bông thiên lý” cho thấy sự khéo léo, đảm đang và gắn bó của bà với cuộc sống làng quê.
  • Bà là người giàu tình yêu thương và sự chăm sóc cho con cháu:
    • Bà nấu bữa canh ngon bằng tất cả tấm lòng thương yêu: chọn nguyên liệu kỹ lưỡng, nấu nướng cẩn thận.
    • Hình ảnh bà “tủm tỉm ngồi nhìn cháu ăn” và “quạt cho cháu bằng mo cau” thể hiện sự yêu chiều, nâng niu.
  • Người bà gợi nhớ ký ức đẹp và là biểu tượng của tình thân:
    • Bát canh rau tập tàng không chỉ là món ăn, mà còn là kỷ niệm chan chứa yêu thương, gợi nhớ về thời thơ ấu, về quê hương và gia đình.
    • Sự giản dị, chân chất của bà khiến hình ảnh bà sống mãi trong lòng người cháu dù thời gian đã qua đi.

– Khái quát nghệ thuật:

  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua lời nói và hành động
  • Giọng văn nhẹ nhàng, đậm chất hồi ức
  • Ngôn ngữ giàu hình ảnh, gợi cảm

3. Kết đoạn:

– Khẳng định lại vẻ đẹp nhân cách và tình cảm của người bà trong văn bản.

– Nêu cảm nhận riêng (thông điệp / bài học).

Bài làm

Trong tác phẩm “Bát canh của bà”, tác giả Vũ Tú Nam đã thành công khắc họa hình ảnh người bà thật dung dị mà giàu tình yêu thương, là biểu tượng đẹp đẽ của người phụ nữ Việt Nam tảo tần, nhân hậu. Qua từng chi tiết nhỏ, người đọc cảm nhận được ở bà một tâm hồn gắn bó sâu sắc với thiên nhiên, với cuộc sống quê hương và nhất là với đứa cháu thân yêu. Bà không chỉ là người hái rau, bắt cua, nấu canh, mà còn là người truyền lại những tri thức dân gian giản dị qua lời chỉ dạy: “Đây là cây dền cơm…”, “Đây là rau đay…”. Dưới bàn tay của bà, những thứ rau mọc hoang, con cua bò nắng tưởng chừng tầm thường, lại trở thành món ăn đầy yêu thương. Hình ảnh bà “tủm tỉm ngồi nhìn cháu ăn”, “quạt cho cháu bằng mo cau” là những khoảnh khắc xúc động, thể hiện tình yêu thương âm thầm, sâu sắc, không lời mà đầy ấm áp. Đó là vẻ đẹp của sự hy sinh, chăm sóc, của một tình cảm lặng thầm mà thiêng liêng. Dẫu thời gian có trôi qua gần sáu mươi năm, nhưng bát canh của bà, hương vị của tình thân ấy vẫn ngọt ngào trong ký ức người cháu – như một mảnh hồn quê không thể phai nhòa. Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật thông qua lời nói, hành động kết hợp với ngôn ngữ miêu tả giàu hình ảnh cùng giọng văn nhẹ nhàng, thấm đẫm chất hồi ức tác giả đã thành công khắc họa hình ảnh người bà mộc mạc, giàu tình yêu thương. Từ hình ảnh người bà, ta thấm thía bài học về lòng biết ơn, về giá trị của những điều bình dị trong cuộc sống và trân trọng hơn những yêu thương thầm lặng, cao quý trong gia đình.

Tham khảo các bài viết khác tại đây:

Đoạn văn Nghị luận văn học 200 chữ tiêu biểu (Phần 2)

Xem thêm: