Nếu ở phần trước, chúng ta đã tìm hiểu cách vận dụng lí luận văn học để tạo nên những mở bài, kết bài giàu tính học thuật, thì trong quá trình triển khai bài viết, lí luận văn học còn có thể trở thành một “chiếc chìa khóa” giúp chúng ta đào sâu luận điểm, nâng tầm bài viết, gây ấn tượng với người chấm ở phần thân bài đó!
Không cần “nhồi” thật nhiều thuật ngữ hay những nhận định cầu kì, điều quan trọng là biết bắt đúng “điểm huyệt”, dùng kiến thức lí luận vào đúng điểm cần phân tích. Hãy cùng Thích Văn học – Trạm văn khám phá 3 cách vận dụng hiệu quả sau đây nhé!
Dùng lí luận để giới thiệu tác giả, tác phẩm
Kiến thức lí luận văn học còn có thể được sử dụng như “cầu nối” để đưa người viết đến với tác giả, tác phẩm một cách tự nhiên. Thay vì giới thiệu tác giả, tác phẩm theo lối quen thuộc, ta có thể xuất phát từ một vấn đề lí luận có liên quan trực tiếp đến đặc trưng sáng tác, phong cách nghệ thuật hoặc quan niệm nghệ thuật của tác giả.
Ví dụ: Khi phân tích truyện ngắn “Cải ơi” của Nguyễn Ngọc Tư, ở phần giới thiệu về tác giả, tác phẩm, ta có thể viết như sau:
Văn chương đích thực luôn bắt đầu từ con người, nhưng con người trong văn học không bao giờ chỉ hiện diện ở dáng vẻ bên ngoài. Đó còn là thế giới của những ám ảnh, mất mát, những khoảng trống không dễ gọi tên và những nhu cầu được yêu thương, được thấu hiểu. Nguyễn Ngọc Tư là một trong những cây bút đương đại có khả năng đặc biệt trong việc đi sâu vào những vùng khuất ấy của tâm hồn con người. Với lối viết giàu chất Nam Bộ, hướng tới những trạng thái tồn tại phức tạp, nhà văn thường đặt nhân vật vào những tình thế tưởng như bình thường để từ đó làm hiện lên những nỗi cô đơn sâu kín. Tác phẩm “Cải ơi” là một minh chứng tiêu biểu. Từ hành trình ông Năm Nhỏ rong ruổi tìm đứa con gái thất lạc, Nguyễn Ngọc Tư đã hám phá nỗi đau của tình phụ tử, những day dứt của một con người trước lỗi lầm và khát vọng được tìm lại mái ấm đã mất.
Dùng lí luận để phân tích các luận điểm chính trong bài (nhân vật, tình huống, chi tiết, cấu tứ, hình ảnh, ngôn ngữ,…)
Đây là cách vận dụng lí luận văn học quan trọng nhất trong quá trình triển khai bài viết. Thay vì chỉ phân tích tác phẩm theo kiểu “chi tiết này cho thấy…, hình ảnh kia thể hiện…”, người viết có thể sử dụng các khái niệm lí luận về nhân vật, tình huống truyện, chi tiết nghệ thuật, điểm nhìn trần thuật, hình tượng, kết cấu,… để lí giải sâu hơn cách nhà văn xây dựng thế giới nghệ thuật trong tác phẩm.
Ví dụ: Khi phân tích tình huống truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu, ta có thể viết như sau:
Trong cấu trúc của truyện ngắn, tình huống truyện là một hạt nhân quan trọng của nghệ thuật tự sự, là “tình thế có vấn đề” mà nhà văn kiến tạo để tập trung các mối quan hệ, xung đột và nghịch lí của đời sống, đồng thời tạo điều kiện cho tính cách, số phận và nhận thức của nhân vật được bộc lộ. Đặc biệt, với kiểu tình huống nhận thức, giá trị của tình huống không chỉ nằm ở sự kiện xảy ra mà còn ở khả năng tạo nên một bước ngoặt trong cách nhìn, cách hiểu của nhân vật về con người và thế giới. “Chiếc thuyền ngoài xa” được Nguyễn Minh Châu tổ chức trên một tình huống nhận thức giàu tính nghịch lí như thế. Trong điểm nhìn của Phùng – một người nghệ sĩ nhiếp ảnh đang đi tìm một cảnh biển “đắt” cho bộ lịch, chiếc thuyền hiện ra giữa màn sương như một vẻ đẹp toàn bích, gợi cảm giác hài hòa giữa ánh sáng, đường nét và không gian. Nhưng ngay sau khoảnh khắc thăng hoa trước cái đẹp, anh lại chứng kiến cảnh bạo lực gia đình diễn ra trên chính chiếc thuyền ấy. Sự va đập giữa cái đẹp nghệ thuật và sự thật đời sống đã tạo nên một tình thế nhận thức, trong đó cái nhìn tưởng như đã đạt tới chân lí lại bị thực tại phủ định. Từ đây, tình huống truyện không chỉ làm phát triển cốt truyện mà còn trở thành cơ chế vận động tư tưởng của tác phẩm: Phùng buộc phải vượt qua cái nhìn đơn tuyến, giản đơn để nhận ra rằng hiện thực vốn đa diện, phức tạp; cái đẹp của nghệ thuật không thể tách rời sự thật của đời sống, và càng không thể đồng nhất vẻ đẹp bề ngoài với bản chất của con người.
Dùng lí luận để đánh giá, nhận xét về tác phẩm
Sau khi phân tích các phương diện cụ thể của tác phẩm, người viết có thể vận dụng kiến thức lí luận văn học để khái quát, đánh giá và nâng tầm những phát hiện của mình. Thay vì chỉ dừng lại ở những nhận xét như “tác phẩm giàu giá trị nhân văn”, “nghệ thuật đặc sắc”, ta có thể dựa vào các vấn đề lí luận như giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo, chức năng của văn học, phong cách nghệ thuật, mối quan hệ giữa văn học và đời sống, đặc trưng thể loại, sức sống của tác phẩm,… để lí giải vì sao tác phẩm có ý nghĩa và giá trị đối với người đọc.
Ví dụ: Khi đánh giá bài thơ “Nhớ đồng” của Tố Hữu, ta có thể viết như sau:
Tham khảo: Sách Chuyên đề lý luận văn học
Thơ ca trước hết là tiếng nói của tình cảm, nhưng cảm xúc trong thơ phải là cảm xúc có tính phổ quát, phải chạm đến mẫu số chung. Bởi thế, một thi phẩm có giá trị không chỉ ghi lại rung động cá nhân mà còn có khả năng biến trải nghiệm cá nhân của người nghệ sĩ thành hệ giá trị có ý nghĩa đối với cộng đồng và thời đại. “Nhớ đồng” của Tố Hữu là một minh chứng tiêu biểu cho quá trình ấy. Được sáng tác trong những tháng ngày nhà thơ bị giam cầm tại nhà lao Thừa Phủ, bài thơ khởi đi từ một nỗi nhớ riêng: nhớ đồng quê, nhớ tiếng hò, nhớ những con người thân thuộc và nhịp sống bình dị của cuộc đời bên ngoài song sắt. Nhưng vượt lên trên nỗi nhớ cá nhân, những hình ảnh của quê hương và cuộc sống tự do đã trở thành biểu tượng cho một thế giới rộng lớn mà người chiến sĩ đang khao khát được trở về, là ao ước được cởi trói của cả dân tộc. “Nhớ đồng” cho thấy khả năng của thơ ca trong việc chuyển hóa hiện thực và trải nghiệm sống thành nghệ thuật, biến nỗi nhớ của một cá nhân thành tiếng nói chung của một thế hệ đang khao khát tự do và lí tưởng. Đồng thời, qua thể thơ bảy chữ, giọng thơ tha thiết và hệ thống hình ảnh quen thuộc, gần gũi, Tố Hữu đã tạo nên lối thơ vừa trữ tình chính trị, trong đó cái tôi cá nhân hòa nhập tự nhiên với cái ta cộng đồng. Chính sự thống nhất giữa cảm xúc cá nhân, hiện thực đời sống và lí tưởng thời đại đã làm nên giá trị của “Nhớ đồng”, đồng thời góp phần khẳng định đặc điểm nổi bật trong phong cách thơ Tố Hữu, góp phần đưa tiếng nói của cái tôi trữ tình hòa vào tiếng nói của cộng đồng, để thơ ca trở thành tiếng lòng của một thế hệ.
Tham khảo các bài viết khác tại đây:
- Phân biệt dạng bài nêu giải pháp cho vấn đề tích cực và tiêu cực
- Áp dụng kiến thức lí luận văn học vào Mở bài – Kết bài
- Cập nhật dẫn chứng NLXH chủ đề tri ân
Xem thêm:
- Lớp văn cô Ngọc Anh trực tiếp giảng dạy tại Hà Nội: Tìm hiểu thêm
- Tham khảo sách Chuyên đề Lí luận văn học phiên bản 2025: Tủ sách Thích Văn học
- Tham khảo bộ tài liệu độc quyền của Thích Văn học siêu hot: Tài liệu
- Đón xem các bài viết mới nhất trên fanpage FB: Thích Văn Học







