Đề Nghị luận văn học: M. Bakhtin quan niệm: “Truyện không chỉ tái hiện lịch sử đời sống mà còn là hành trình đi tìm con người trong con người”.
Em hiểu ý kiến trên như thế nào? Bằng trải nghiệm văn học của mình, em hãy trình bày suy nghĩ về hành trình đi tìm con người trong con người.
Bài làm
Lê Đạt từng tâm niệm: “Đọc một câu thơ hay, ta thường có cảm giác đứng trước một bến đò gió nổi, một khao khát sang sông, một thúc đẩy lên đường hướng thiện”. Dường như, trang sách kia đâu chỉ là những lớp chữ hào nhoáng, bóng bẩy, đâu chỉ là hiện thực trần trụi, thô nhám. Thực chất “Truyện không chỉ tái hiện lịch sử đời sống mà còn là hành trình đi tìm con người trong con người” (M.Bakhtin).
Nghệ thuật “phụng sự nhân sinh”, nghệ thuật ra đời trước hết luôn mang chứa gương mặt đời sống. Truyện “tái hiện lịch sử đời sống” tức là phản chiếu thế sự trên trang văn, thu lượm trong mình những biến chuyển, vần xoay của cuộc đời. Từ đó, mỗi câu chuyện là một phần của cuộc sống, một tư liệu cho người đọc hình dung về bối cảnh, về vấn nạn nhức nhối của thời đại hay bản chất của nhân sinh. Qua đó, họ dấn thân vào công cuộc “đi tìm con người trong con người”- thấu suốt căn tính của chính mình, nhận ra bản diện của chính mình. Truyện bỗng chốc hóa thành tấm gương soi, phản chiếu tất thảy những góc khuất, góc tối mà con người muốn che đậy, đồng thời đem đến cho người đọc một phương hướng sống, một mục đích sống thực sự. Như vậy, với M. Bakhtin, nghệ thuật chính là sự khai nhãn, bừng tỉnh để người đọc khám phá chính mình. Đọc truyện thực chất là “đọc” chính mình, thay vì chỉ đơn thuần soi ngắm hiện thực bề bộn xung quanh.
Nghệ thuật luôn “ soi bóng thời đại mà nó ra đời” (Tô Hoài) bởi lẽ bất kể nhà văn nào, anh ta cũng thuộc về một thời đại nhất định. Thời đại đó sẽ thôi thúc anh ta viết, thôi thúc anh ta vận dụng bút lực mà cất nên trang. Một người nghệ sĩ thực thụ sẽ chẳng thế ngó lơ, đặt đôi chân mình ra ngoài lề đời sống để trơ ra một con mắt ráo hoảnh. Trái lại, anh nhập cuộc vào đời sống ấy một cách sâu sắc để đào sâu, để cố mà tìm hiểu mọi thứ đang diễn ra. Từ đó, gương mặt đời sống được lộ diện, những ung nhọt của thời thế, những thói xấu ngông cuồng, những xảo trá ngụy tạo đều bị vạch trần. Thậm chí, nơi giao thoa giữa cái đẹp- cái xấu, cái cao cả- cái ti tiện, đớn hèn cũng được tô đậm rõ nét. Đấy cũng chính là lúc mà người đọc tìm ra “con người bên trong con người” – một con người luôn chứa đựng cả mặt tốt đẹp và mặt xấu xa, cả phần lương thiện lẫn phần ác quỷ. Chí Phèo có tốt không? Thực chất Chí rất tốt, rất lương thiện, nhưng Chí cũng mù quáng bị hận thù dẫn dắt, hóa thành “con quỷ” làng Vũ Đại. Truyện “tái hiện lịch sử cuộc sống” nhưng chẳng phải là sự tái hiện khô khăn, tẻ nhạt, đưa ra một vài luận điệu mơ hồ. Trái lại, hiện thực ấy sống động, không ngừng biến sinh mãnh liệt trên trang văn. Bởi vậy mà đôi khi, đọc một trang văn mà ta hiểu hết một đời người, ngẫm một câu chuyện mà thấu suốt quy luật vận hành tất yếu của thế gian. Để rồi, hành trình đi tìm “con người bên trong con người” là hành trình đi từ đại thể rộng lớn đến tiểu thể bé nhỏ, từ nhân sinh đến chính mình.
Nghệ thuật trở nên có ích khi nghệ thuật có khả năng tác động và tái tạo con người theo chiều hướng tích cực hơn. Đọc áng văn mà ta ngỡ như chứng kiến cả một cuộc thay đổi lớn lao từ sâu trong tâm khảm, soi sáng, thức ngộ “con người bên trong con người” mình. Nó đem đến những nhận thức vỡ lẽ trong lòng bạn đọc, đem đến cái nhìn hoàn toàn khác đi so với hiện thực trước đó. Con mắt xưa cũ kỹ xưa, nay đã được thay bằng một sự thấu trải, chiêm nghiệm sâu sắc hơn. Đấy chính là phút giây ta nhận ra con người thật của chính mình, nhận ra những khát khao và mong mỏi sống đích thực. Kiếp sống vật vờ vốn là kiếp sống vô nghĩa, kiếp sống vô định vốn là kiếp sống phía hoài. Bởi vậy, càng khám phá “con người” bên trong thì nhân sinh càng biết sống “ra người hơn”, sống “tốt hơn” (Thanh Thảo). Văn chương sẽ hướng con người đến bến bờ của chân- thiện-mỹ, những giá trị nhân văn cảo cả, tốt đẹp. Mà nói như nhà văn William Faulkner: “tác phẩm của thi nhân không phải là một bản sao chép về nhân loại mà nó là chỗ dựa để nhân loại sinh tồn và vượt qua tất cả”.
Truyện không chỉ đánh thức khả năng hướng thiện, hướng sáng cho con người, mà hơn hết là khả năng “tự nhận thức” chính mình của độc giả. Giá trị sâu xa của một cuốn sách không nằm trên trang bìa của nó, cũng không nằm trên nội dung của nó, mà chính là khả năng chuyển hóa từ sâu bên trong. Chính chức năng “tự nhận thức” mà văn học giúp con người nhận ra “con người” bên trong. Đó là cái nhìn ngoái lại, là cái nhìn về quá khứ, về con người lâu nay của chính mình. Đôi khi, văn học con khơi lên sự mặc cảm, ăn năn để phản tỉnh, để con người không sa lầy vào hố đen bất nhân. Nói như thế không có nghĩa là đang thần thánh hóa văn chương, văn chương chẳng “cứu rỗi” ai cả, nó chỉ đơn thuần ngăn con người lại, giữ họ không rơi xuống vực thẳm của cái ác, đánh thức ở họ khả năng tự cứu rỗi chính mình. Người nghệ sĩ với những gì chân thật nhất trong con người mình sẽ kiếm tìm được điểm kết nối với bạn đọc, đem đến một sự tin cậy lớn lao. Nhà văn, anh ta xuất hiện như một người bạn tri kỉ cùng đồng hành trên bước đường bạn đọc nuôi dưỡng tâm hồn mình, thế giới bên trong mình.
Với “sang sông”, Nguyễn Huy Thiệp đã đem đến cho người đọc một giác ngộ về chân lí, một sự khám phá về “con người bên trong con người”: tính thiện luôn nằm sâu trong mỗi chúng ta, bất cứ ai, kể cả những con người bị cho là mạt hạng, bần cùng nhất. Đó là một “tên cướp lương thiện” được Nguyễn Huy Thiệp ném vào giữa thế gian hoang dã, chưa qua một lò đúc sẵn nào. Một mình hắn dám đứng lên đập vỡ cái bình gốm trước sự kinh ngạc của người đời, hắn đập vỡ cái tình thế nguy nan để cứu giải cho một sinh linh, một mạng người, hắn đập vỡ cả sự hoang tưởng, ngờ vực bấy lâu mà người đời gắn ghép cho hắn. Ai bảo một người vốn làm điều xấu, điều ác lại không có quyền làm điều thiện? Và cũng đâu ai chắc chắn một người luôn hành động trượng nghĩa thì sẽ chẳng có lúc đánh mất mình? Nhà thơ, ông giáo đấy chăng? Họ sợ hãi, tỏ vẻ chần chừ trước tình huống éo le của đời sống. Anh chàng trong tình yêu đấy chăng? Anh ta đứng dậy trao chiếc nhẫn để chuộc cậu bé nhưng hóa ra cũng chỉ là tỏ ra cao thượng. Rốt cục chừng ấy con người trước đây vốn được xem là lương thiện vẫn trở nên bế tắc trước vòng xoáy, nghịch cảnh của đời sống. Chính người đọc cũng phải giật mình nảy lên khi câu nói “trẻ em là tương lai đấy, làm gì cũng phải nhân đức hàng đầu” lại được thốt ra từ chính miệng của kẻ thiếu học vấn nhất, hay thậm chí là chưa từng được nuôi dưỡng bởi học vấn. Hắn vẫn nhận thức được đâu là giá trị cần níu giữ mai sau, là đứa trẻ kia chứ chẳng phải là thứ vật chất đáng giá trăm vạn bạc. Hắn hiểu, đâu là cái đích đến, đâu là cái nhân sinh cần hướng tới, đâu là yêu cầu thúc bách trong đời sống này. Rõ ràng, vật chất có thể nuôi sống con người ta, đem con người trở nên giàu có, nhưng trước tính mạng tất cả đều hóa tầm thường! Bẽ bàng nhận ra rằng những lời thuyết giáo, giáo điều mà con người thường đặt ra đâu thiết thực bằng hành động, thậm chí chúng còn bất lực trước đời sống thực tế, chúng như cái cớ để người ta mang danh là những con người có đức, có trí. “Sang sông” sau cùng là một giả định gói ghém toàn bộ ý niệm của Nguyễn Huy Thiệp về bản chất của “con người bên trong con người”. “Sang sông” chứa đựng hai bờ “đáo bỉ ngạn” (bờ bên kia) là lớp cao nhất, đỉnh cao của sự giác ngộ, khoảnh khắc mà con người thoát ra khỏi tham sân si, u mê tăm tối; và “thử bỉ ngạn” (bờ bên này) là những thứ con người chưa thể đốn ngộ, còn chìm vào những góc khuất tối tăm. Từ đó, đánh thức trong con người sự nhìn nhận xác đáng, cách đối nhân xử thế khôn ngoan. Thậm chí, Nguyễn Huy Thiệp còn khơi dậy trăn trở: liệu chính bản có thực sự là người tốt hay không, hay chỉ là thân xác mang trong mình cái danh cao thượng? Sống cần sống chân thật, sống sao cho không hổ thẹn với lương tâm của chính mình.
Có thể thấy, văn chương bao giờ cũng là bến đỗ nơi con người tìm được “con người” của chính mình. Người đọc thưởng văn vừa tìm thấy cái hay, cái thú vừa khai phá được nội tâm trong mình. Còn nhà văn, anh ta cũng thấu hiểu bản thân hơn, tự rèn dũa mình qua từng trang viết. Người xưa có câu: “Văn chương cổ kim đều viết bằng huyết lệ”, họa chăng cũng là sự phúng dụ cho ruột gan văn nhân, con người thật bên trong anh ta hay nói cách khác là con người nghệ sĩ. Anh ta vừa “tái hiện đời sống”, vừa phản ánh chân dung con người, vừa thêm vào đó một phần bản diện của chính mình, thêm vào đó cái khát khao và suy tưởng của riêng mình. Như vậy, quá trình “đi tìm con người bên trong con người” đồng thời cũng là quá trình mỗi nhà văn, mỗi người nghệ sĩ tự hiểu mình.
Hành trình “đi tìm con người bên trong con người” tất yếu buộc bạn đọc phải dồn toàn tâm toàn ý, nhập thân vào câu chuyện thì mới có khả năng thấu suốt, vỡ lẽ những bài học đắt giá. Đồng thời, nhà văn cũng cần trau dồi bút lực, đem những gì tinh túy nhất của đời sống dồn chứa vào trang văn. Anh phải sống thật sâu, thật nhiệt thành với cuộc đời ngoài kia thì “lịch sử đời sống” hay câu chuyện nhân sinh mới sống động, chân thực, mới gợi nhiều ý niệm sâu xa.
Bao giờ nghệ thuật mới lụi tàn? Bao giờ văn chương mới bị đánh gục trước sự nghiệt ngã của thời gian? Có lẽ sẽ chẳng bao giờ nếu câu chuyện kia là câu chuyện của tâm hồn, câu chuyện của sự soi mình bên cạnh việc phản ánh đơn thuần về đời sống.
Tham khảo: Sách Chuyên đề lý luận văn học
Tham khảo những bài viết Nghị luận văn học liên quan:
Nghị luận văn học nâng cao: Cái đẹp trong văn học nghệ thuật
Nghị luận văn học nâng cao về Thơ
Nghị luận văn học: Tình mẫu tử
Nghị luận văn học: Cười là một hình thức chế ngự cái xấu



