Dàn ý phân tích đoạn trích “An Tư”

Dan y phan tich doan trich An Tu

An Tư của Nguyễn Huy Tưởng là truyện lịch sử giàu giá trị nhân văn, khắc họa sâu sắc số phận con người trong bước ngoặt của dân tộc. Bài viết này của Thích Văn học sẽ gợi ý cách viết đoạn văn nghị luận văn học khoảng 200 chữ phân tích đoạn trích An Tư trong phần Đọc hiểu, giúp học sinh nắm được nội dung trọng tâm, ý nghĩa lịch sử và chiều sâu cảm xúc của nhân vật, từ đó triển khai bài làm rõ ràng, đúng hướng. Cùng đọc và tham khảo nhé!

Đề bài

Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn trích trong bài “An Tư” của Nguyễn Huy Tưởng được trích trong phần Đọc hiểu.

Dàn ý 

PhầnCâuNội dungĐiểm

II

1
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích đoạn trích trong bài “An Tư” của Nguyễn Huy Tưởng được trích trong phần Đọc hiểu.2.0
a) Đảm bảo về hình thức: đoạn văn khoảng 200 chữ, đảm bảo chuẩn ngữ pháp và chính tả,…0.25
b) Xác định đúng vấn đề nghị luận: phân tích đoạn trích trong bài “An Tư” của Nguyễn Huy Tưởng được trích trong phần Đọc hiểu.0.25
c) Đề xuất được hệ thống ý phù hợp

1. Mở đoạn:

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

– Nêu vấn đề nghị luận: Đoạn trích trong bài “An Tư” đã tái hiện lại thời khắc triều đình nhà Trần đối diện nguy cơ xâm lược của giặc Nguyên – Mông; qua đó khắc họa rõ vẻ đẹp của những con người trung liệt, yêu nước.

2. Thân đoạn:

– Tình cảnh lâm nguy của đất nước qua lời kể của vua Thiệu Bảo: “Quân ta thua to quá, Chi Lăng đã mất, Thoát Hoan đánh xuống như thế chẻ tre, quân sĩ lại hung ác giết hại nhân dân rất nhiều. Quốc công kéo đại binh về Vạn Kiếp, quân tướng tan vỡ”

  • Liệt kê các sự việc diễn ra liên tục → Phản ánh tình thế nguy cấp của đất nước
  • So sánh “Thoát Hoan đánh xuống thế như chẻ tre” → Miêu tả sinh động sức mạnh dữ dội, tốc độ tấn công ào ạt của quân giặc do Thoát Hoan chỉ huy: nhanh, mạnh, gần như không gặp trở ngại, khiến quân ta tạm thời yếu thế.

→ Tình thế nguy nan đòi hỏi phải có những người anh hùng đứng ra cứu nước.

→ Qua đó, độc giả cũng thấy được vua Thiệu Bảo là một vị vua yêu nước, quan tâm đến vận mệnh quốc gia; đồng thời cũng là người biết cách hành xử khôn khéo khi thông qua lời kể ngầm thúc giục Chiêu Thành vương mau ra sức vì nước vì dân.

0.5
– Tinh thần yêu nước của Chiêu Thành vương và các tướng sĩ:

  • Chiêu Thành vương:
  • Khi nghe vua kể chuyện nước, chàng thấy “rất thẹn”, “cảm thấy như mình mang tội lớn với vua, với xã tắc, với cả triều đình” → Đó là nỗi thẹn của người quân tử khi tự biết mình chưa góp sức cho non sông.
  • Khi sắp lên đường về Vạn Kiếp cùng vua, Chiêu Thành vương đã có lời căn dặn chân tình với quân sĩ: “Ta phải đi… ấy cũng là đánh giặc đấy” → Thể hiện niềm tin tưởng của người chủ tướng đối với quân sĩ của mình.

→ Chiêu Thành vương là một vị chủ tướng rất gần gũi, thấu hiểu tâm lí quân sĩ: nôn nóng, sốt ruột muốn được tham gia đánh trận.

→ Đồng thời, ông cũng là người lãnh đạo đầy trách nhiệm, biết nhìn xa, trông rộng, biết động viên khích lệ quân sĩ.

  • Các tướng sĩ: 
  • “Người nào cũng mong ngóng được lên Bắc, giao chiến cùng rợ Mông để tỏ chí bình sinh và báo ơn chủ tướng” 
  • Thấu hiểu tấm lòng trung nghĩa của chủ tướng: “Họ cũng thừa hiểu…việc tiến binh”

→ Họ là những con người yêu nước, trung nghĩa.

0.5
– Tổng kết về nghệ thuật:

  • Giọng văn hào hùng mạnh tinh thần trận mạc.
  • Sử dụng nhiều từ Hán Việt mang sắc thái cổ kính phù hợp với bối cảnh thời đại.
  • Nghệ thuật khắc họa nhân vật thông qua việc miêu tả lời nói, hành động.
  • Cốt truyện đơn tuyến, dễ theo dõi.
  • Tình huống truyện được xây dựng khéo léo để bộc lộ tính cách nhân vật
  1. Kết đoạn: Khẳng định lại giá trị của đoạn trích và liên hệ bản thân.
0.25
d) Bài viết có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo 0.25

Tham khảo các bài viết khác tại đây:

Đọc hiểu văn bản “An Tư”

NLVH: Nhân vật Hoài Văn trong “Lá cờ thêu sáu chữ vàng”

Xem thêm: