Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo”

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” – Dòng máu nóng ngàn đời chảy trong huyết quản của một bậc hiền nhân vì nước vì dân.

Xuyên suốt chặng đường tồn tại và phát triển của văn học Việt Nam, tư tưởng nhân nghĩa đóng vai trò như một sợi chỉ đỏ nối liền thời đại. Nhân nghĩa là một trong những truyền thống quý báu từ bao đời nay của dân tộc ta, truyền thống đó được kế thừa và phát huy theo chiều dài của lịch sử. Nền văn học trung đại Việt Nam ra đời gắn liền với quá trình dựng nước và giữ nước đau thương mà oanh liệt, oai hùng. Vì vậy, hầu hết các tác phẩm ra đời trong thời kì này đều mang trong mình sợi chỉ đỏ xuyên suốt ấy, và một trong những áng văn tiêu biểu nhất không thể không kể đến “thiên cổ hùng văn” của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi – “Bình Ngô đại cáo”, bài cáo đã vút cao tinh thần độc lập dân tộc, tinh thần yêu nước còn được ghi nhắc đến muôn đời. Đặc biệt cần phải kể đến là tư tưởng nhân nghĩa được Nguyễn Trãi thể hiện trong “Cáo bình Ngô” đã trở thành giá trị tư tưởng cao đẹp nhất mà nhân dân ta mãi ngợi ca và hướng tới.

“Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo”

 Đó là lời ca tụng nổi tiếng của vua Lê Thánh Tông dành cho Nguyễn Trãi sau hơn hai mươi năm bị hàm oan tày trời. Trong suốt bao năm qua, Nguyễn Trãi luôn được nhớ tới như một truyền kỳ, vừa là một nhà tư tưởng, nhà chính trị đại tài của dân tộc – một bậc anh hùng toàn tài hiếm có, người đã có công trong việc phò tá vua Lê xây dựng nghiệp lớn, vừa là một nhà văn, nhà thơ kiệt xuất của nền văn học trung đại Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp của ông được đúc kết trong câu thơ của Chế Lan Viên:

“Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc

Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn”

(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?)

Các tác phẩm của ông là sự kết tinh đẹp đẽ nhất của tư tưởng chính nghĩa, lòng yêu nước nồng nàn cùng lập luận sắc sảo, chặt chẽ, giọng văn hùng hồn, đầy tính thuyết phục với tư tưởng lấy dân làm gốc. Và một trong những tác phẩm của ông thể hiện rõ nhất điều này không thể không kể đến áng “thiên cổ hùng văn” – “Bình Ngô đại cáo”.

“Bình Ngô đại cáo” là bài cáo được viết bằng cổ văn do Nguyễn Trãi soạn thảo vào mùa xuân năm 1428, thay lời Bình Định Vương Lê Lợi để tuyên cáo về việc giành chiến thắng trong cuộc kháng chiến với nhà Minh, khẳng định sự độc lập của nước Đại Việt. Đây được coi là bản Tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam, sau bài thơ thần “Nam quốc sơn hà”. Song, “Bình Ngô đại cáo” không phải chỉ được tiếp nhận chủ yếu như một văn bản hành chính mà còn được đón nhận như một kiệt tác văn chương. “Bình Ngô đại cáo” qua ngòi bút thiên tài của Nguyễn Trãi trở thành một bản anh hùng ca đẹp nhất thời đại của ông, thấm đẫm tinh thần yêu nước, tư tưởng nhân nghĩa mà người đời ca tụng mãi về sau.

Tư tưởng nhân nghĩa xuất hiện rất sớm trong truyền thống triết học Trung Hoa. Theo Khổng Tử, “nhân” là “yêu người” và để yêu người thật sự bằng lòng “nhân” thì phải “hiểu người”. Còn “nghĩa” được nhấn mạnh là sự cư xử cho thích hợp dựa trên việc “hiểu người”. “Nhân” và “nghĩa” luôn thể hiện phẩm chất cao đẹp của người quân tử. Xét đến Mạnh Tử, người kế tục Khổng Tử, chữ nhân đứng hàng đầu trong bốn đức lớn: Nhân – Nghĩa – Lễ – Trí. Chúng bắt nguồn từ bốn đầu mối của Thiện. Trong đó, lòng thương xót là đầu mối của nhân. Có thể nói, những tư tưởng và những quan điểm khác nhau về nhân nghĩa phản ánh đời sống tinh thần của con người Trung Hoa đã ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng truyền thống phương Đông nói chung và Việt Nam nói riêng.

Thế nhưng, sự tiếp nhận của các bậc văn nhân Đại Việt đối với văn hóa Trung Hoa không phải là sự tiếp nhận thụ động và gieo trồng lên mảnh đất văn học những hạt mầm có sẵn mà đó là một sự tiếp nhận có chọn lọc, kết hợp hài hoà những tinh tuý của tư tưởng nhân nghĩa Nho giáo với truyền thống quý báu bao đời của dân tộc Việt Nam như:

“Lá lành đùm lá rách”

“Thương người như thể thương thân”

Do đó, tư tưởng nhân nghĩa của Nho giáo khi vào nước ta đã được tiếp biến một cách tích cực. Nhân nghĩa của Nho giáo vì thế hòa quyện cùng với nhân nghĩa của nhân dân. Nguyễn Trãi đã tiếp thu trọn vẹn những tinh hoa văn hoá ấy để rồi tác phẩm nào của ông cũng thấm đượm tinh thần nhân đạo cao đẹp, yêu nước thương dân mà “Bình Ngô đại cáo” là một ví dụ rõ nét.

Sê-khốp đã từng khẳng định: “Một nghệ sĩ chân chính phải là một nhà nhân đạo từ trong cốt tủy”. Sê-khốp coi tinh thần nhân đạo là phẩm chất bắt buộc phải có trong mỗi người cầm bút, là tiêu chuẩn, điều kiện để đánh giá mức độ chân chính của nhà văn. Bởi tác phẩm văn học chân chính thể hiện cái tâm của người nghệ sĩ, phải hàm chứa tinh thần nhân văn sâu sắc, chứa đựng niềm vui, nỗi khổ đau của con người. “Bình Ngô đại cáo” chính là một tác phẩm như thế. Tinh thần nhân văn được Nguyễn Trãi thể hiện trong bài cáo trước hết nằm ở quan niệm về tư tưởng nhân nghĩa của ông. Ngay từ đầu, Nguyễn Trãi đã khẳng định sự đấu tranh này là vì lợi ích của nhân dân:

 “Từng nghe: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân

 Quân điếu phạt trước lo trừ bạo”

Nhân nghĩa vốn là một tư tưởng đạo Nho, là mối quan hệ giữa người với người dựa trên cơ sở của tình thương và đạo lí. Nhưng ở đây, với bốn chữ “yên dân”, “trừ bạo”, Nguyễn Trãi đã nâng nó lên một tầm cao mới, trở thành một lý tưởng xã hội, một đạo lý dân tộc có giá trị đến muôn đời: việc nhân nghĩa ở đời cốt là lo cho dân được ấm no, giúp cho dân được yên ổn. Nguyễn Trãi đã khẳng định đạo lý “lấy dân làm gốc” là quy luật tất yếu trong mọi thời đại – dân là nòng cốt, là tài sản, là sức mạnh, sinh khí của một quốc gia. “Yên dân”, tức là làm cho cuộc sống của nhân dân được yên ổn, no đủ, hạnh phúc. Nhưng để được “yên dân” trước phải lo “trừ bạo”, có nghĩa phải vì nhân mà dám đứng lên diệt trừ bạo tàn, đánh tan quân xâm lược. 

Ở đây, có thể nói Nguyễn Trãi đã sử dụng tài tình nghịch lí “gậy ông đập lưng ông”: ông dùng chính những luận điểm kinh điển về nhân nghĩa của tư tưởng Trung Hoa từng được các bậc thánh hiền như Khổng Tử, Mạnh Tử,… đúc kết lại mà bọn tướng Minh đều đã thuộc nằm lòng để quật lại bọn chúng. Đối với Nguyễn Trãi, “nhân nghĩa” không còn là một quan niệm đạo đức hạn hẹp mà là một lý tưởng xã hội, cả cuộc đời ông chưa từng có một giây phút nào ngưng lo nghĩ cho dân cho nước:

“Dẽ có Ngu cầm đàn một tiếng

 Dân giàu đủ khắp đòi phương”

                                         (Cảnh ngày hè)

Bậc anh hùng ấy lo cho dân bằng tất cả tình thương tận sâu nơi đáy lòng. Dân giàu, nước mạnh, dân no đủ, nước thái bình, đây là giấc mơ Nguyễn Trãi luôn khắc khoải suốt cả cuộc đời dẫu cho cuộc đời ấy phải chịu nhiều đắng cay và oan khuất, hơn hết, nó còn là cả một học thuyết nhân sinh ấp ủ đã đến lúc bật ra thành lời. Nếu giấc mơ kia là của bậc đại nhân, thì cái lõi tư tưởng của giấc mơ là của bậc đại trí. Đó là tư tưởng nhân nghĩa đã được Nguyễn Trãi vạch rõ ngay trong hai câu mở đầu “Bình Ngô đại cáo”, một tư tưởng rất tiến bộ, tích cực, phù hợp với tinh thần của thời đại và cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị.

Nếu thế kỉ XI lũ giặc Tống hồn xiêu phách lạc khi nghe âm hưởng của bài thơ thần Nam quốc sơn hà vang lên bên bến sông Như Nguyệt, hay đến thế kỉ XX thực dân Pháp cũng chẳng còn cái cớ nào kéo sang xâm phạm nước Nam sau khi nghe những lời dõng dạc của chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn Độc lập, thì ở thế kỉ XV, Nguyễn Trãi cũng đã khẳng định một cách hùng hồn về lãnh thổ Việt Nam với lũ giặc ngoại xâm. Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi còn gắn liền với tư tưởng yêu nước, với việc bảo vệ chủ quyền đất nước, khẳng định chủ quyền quốc gia và tinh thần độc lập dân tộc:

“Như nước Đại Việt ta từ trước

Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

Núi sông bờ cõi đã chia

Phong tục Bắc Nam cũng khác

Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập

Đến Hán, Đường, Tống Nguyên mỗi bên xưng đế một phương.

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

Song hào kiệt đời nào cũng có.”

Chỉ một từ “ta” mang ý sở hữu, Nguyễn Trãi cũng đã dõng dạc khẳng định rằng lãnh thổ Đại Việt là bất khả xâm phạm. Ở đây, ông đưa ra một quan niệm được đánh giá là đầy đủ nhất lúc bấy giờ về các yếu tố tạo thành một quốc gia độc lập: nước Việt ta có nền văn hiến tự bao đời, có núi sông bờ cõi, ranh giới đã phân định, có phong tục tập quán phong phú, có các triều đại sánh ngang với “Hán, Đường, Tống, Nguyên”, có nhân tài phò vua diệt giặc. Còn nhớ trong “Nam quốc sơn hà”, Lý Thường Kiệt mới chỉ khẳng định bằng một phương diện đó là lãnh thổ, nhưng lại ở sách trời. Đến “Cáo bình Ngô”, Nguyễn Trãi mới nâng tầm chân lý độc lập lên nhiều phương diện rất cụ thể chứ không còn mơ hồ như trước. Đây là tiền đề cơ sở của tư tưởng nhân nghĩa bởi chỉ khi ta xác lập được chủ quyền dân tộc thì mới có những lý lẽ để thực thi những hành động “nhân nghĩa” làm cho quốc thái dân an.

Để nêu bật tư thế độc lập tự cường của dân tộc, Nguyễn Trãi đã sử dụng cách diễn đạt sóng đôi. Đại Việt và Trung Hoa đã bao đời song song tồn tại. Ông đã đặt các triều đại “Triệu, Đinh, Lý, Trần” của ta ngang hàng với “Hán, Đường, Tống, Nguyên” của Trung Hoa, điều đó cho ta thấy, nếu không có một tình yêu nước nồng nàn, một lòng tự hào dân tộc mãnh liệt thì làm sao có được sự so sánh tinh tế và sâu sắc như vậy. Ngoài ra, câu văn còn được tăng sức thuyết phục lên gấp bội khi Nguyễn Trãi sử dụng nhiều từ ngữ chỉ tính chất hiển nhiên vốn có khi nêu rõ sự tồn tại của Đại Việt: “từ trước”, “đã lâu”,“đã chia”, “cũng khác”. Nghệ thuật thành công nhất của đoạn đầu tiên nói riêng và cả bài cáo nói chung chính là thể văn biền ngẫu được nhà thơ khai thác một cách triệt để nhưng không kém phần tinh tế. 

Như vậy, Bình Ngô đại cáo đã ghi nhận một chân lý độc lập đầy tinh thần nhân nghĩa. Độc lập ấy có được không phải do trời định mà là do dân định. Chính nhân dân bao đời là người đã gây dựng nền độc lập. Biết bao xương máu đã đổ xuống, biết bao sự đồng cam cộng khổ, bao nhiêu mồ hôi, nước mắt của nhân dân đã đổ xuống cả nghìn năm để dựng xây nên hình hài Tổ quốc. Vì thế, đó là điều “bất khả xâm phạm”. Suốt cả sáu trăm năm khi đất nước độc lập tự chủ, lần đầu tiên chân lý chủ quyền dân tộc được vang lên một cách dõng dạc, khí thế, tự hào đến vậy. Như vậy, có thể thấy tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi mang đậm sắc thái của tinh thần yêu nước truyền thống luôn chảy trong huyết quản con Rồng cháu Tiên. 

“Văn chương bất hủ cổ kim đều viết bằng huyết lệ” (Lâm Ngũ Đường), phải chăng khi viết những câu văn liệt kê từng tội ác tày trời của quân giặc đối với dân ta, ngòi bút của Nguyễn Trãi cũng đã nhỏ lệ, trái tim của ông cũng đã rỉ máu? Tư tưởng nhân nghĩa ở Nguyễn Trãi còn thể hiện ở sự cảm thông, chia sẻ với nỗi thống khổ của người dân mất nước cùng nỗi tức giận, niềm uất hận ngút trời bởi tội ác không thể dung thứ của quân giặc. Vì thương dân, ông đã xót xa trước những thảm cảnh mà “quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ” do “bọn gian tà bán nước cầu vinh”:

“Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ

Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế

Gây binh kết oán trải mấy mươi năm

Bại nhân nghĩa nát cả đất trời.

Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.”

Chiến tranh đã gây ra bao đau thương , mất mát cho nhân dân ta. Chính sách đồng hóa của nhà Minh vừa tàn bạo vừa thâm độc, bao gồm những thủ đoạn hủy diệt dã man, có thể nói tất cả những gì là cơ sở tồn tại về vật chất và tinh thần của một quốc gia dân tộc chúng đều tìm cách hủy diệt dần. Chúng bỏ tên nước ta, chia làm quân huyện như đất đai nhà Minh. Chúng đàn áp khủng bố cực kì man rợ hòng dập tắt phong trào và ý chí phản kháng của nhân dân ta. “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn”/ “Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”, Nguyễn Trãi sử dụng những từ ngữ biểu cảm, gợi hình gợi cảm như “nướng”, “vùi”, “dân đen”, “con đỏ”… Nhân nghĩa còn là sự sẻ chia đồng cảm, cảm thông với nỗi đau của người dân mất nước. 

Lật lại sử sách, nhìn lại những tội ác tày trời của quân giặc gây ra cho dân ta mà chỉ biết uất nghẹn trong lòng: Chúng bắt phụ nữ, trẻ em làm nô lệ, mua bán như một thứ hàng hóa. Chúng rút ruột người treo lên cây, nấu thịt người làm dầu, phanh thây phụ nữ có thai, nướng sống người làm trò chơi, chất thây người làm mồ mua vui.

Không chỉ có vậy, bọn giặc còn thực hiện một chế độ sưu thuế cống nạp nặng nề để vơ vét của cải, cướp đoạt tài nguyên, sản vật:

“ Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng.

Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.

Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng.

Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.

Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,

Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.

Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán,

Nay xây nhà, mai đắp đất, chân tay nào phục dịch cho vừa?

Nặng nề những nỗi phu phen

Tan tác cả nghề canh cửi.”

Chúng phá hoại nhân dân thôi chưa đủ, còn phá hoại cả môi trường sống xung quanh đến nỗi tàn hại cả côn trùng, cây cỏ. Bọn man rợ còn bóc lột đến tàn kiệt sức lao động của người dân “bị đem vào núi đãi cát tìm vàng”, “ bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc”, coi mạng sống con người như cỏ rác mặc cho “cá mập thuồng luồng”, mặc cho “rừng sâu nước độc”. Chúng vơ vét tài nguyên đến tận cùng “vét sản vật”, “bắt chim trả”, “bẫy hươu đen” đến nỗi “chốn chốn lưới chăng”, “nơi nơi cạm đặt”. Giặc Minh quấy nhiễu đến nỗi sản xuất bị đình trệ “tan tác cả nghề canh cửi”, cuộc sống nhân dân bị huỷ hoại không còn lại gì “tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ”, đẩy nhân dân đến bước đường cùng “nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng”. Chúng đã hung hăng, ngang ngược xúc phạm đến đạo lí nhân nghĩa của đất trời và lòng người.

Còn nhớ trong “Hịch tướng sĩ”, Trần Hưng Đạo cũng có một trái tim cháy bỏng về lòng căm thù giặc và một trái tim sắt đá quyết tâm đánh đuổi giặc ra khỏi bờ cõi nước nhà: “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác này gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.” Đó là tâm trạng căm phẫn tột cùng và hào khí “sát thát” Đông A của thời Trần.

Còn trong “Bình Ngô đại cáo”, cũng với một niềm phẫn uất thấu trời, Nguyễn Trãi đã vạch trần bản chất thực của kẻ xâm lược bằng những câu văn chất chứa biết bao nhiêu phẫn nộ, bi thương. Tội ác của giặc Minh chồng chất đến nỗi dẫu chặt trụi tre rừng cũng không ghi hết, dơ bẩn đến nỗi nước biển Đông cuồn cuộn cũng không rửa sạch mùi, khiến cho trời đất chẳng thể dung thứ.

“Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi!

Lẽ nào trời đất dung tha? Ai bảo thần dân chịu được?”

Ngòi bút nhỏ máu của Nguyễn Trãi vừa thể hiện nỗi căm phẫn, niềm uất hận nghẹn ngào của ông trước tội ác của giặc, vừa bộc lộ niềm cảm thông, xót xa, chia sẻ với nỗi thống khổ mà nhân dân ta phải chịu đựng suốt mấy mươi năm. Ngay cả khi bị bọn lộng thần đố kị, vu cáo, thậm chí bị hạ ngục, khiến ông buộc lòng phải hai lần xin về trí sĩ tại Côn Sơn, tấm lòng ưu quốc ái dân của ông vẫn không lúc nào nguôi:

 “ Bui một tấc lòng ưu ái cũ

Đêm ngày cuồn cuộn nước triều dâng.”

(Thuật hứng)

Trước những tội ác chồng chất của giặc như vậy, chúng ta chỉ có một con đường là đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi để trừ bạo, yên dân. Xót xa cho cảnh nước mất nhà tan, Lê Lợi – người anh hùng áo vải đất Lam Sơn đã phất cờ khởi nghĩa:

Ta đây:

Núi Lam sơn dấy nghĩa

Chốn hoang dã nương mình

Ngẫm thù lớn há đội trời chung

Căm giặc nước thề không cùng sống.”

Sử sách còn ghi chuyện chàng thanh niên Nguyễn Trãi khóc theo cha đến tận ải Nam Quan khi cha ông là Nguyễn Phi Khanh bị giặc Minh bắt giải về Kim Lăng. “Nợ nước, thù nhà”, Nguyễn Trãi khắc sâu lời cha dặn: “Con trở về lập chí, rửa nhục cho nước, trả thù cho cha, như thế mới là đại hiếu”. Cuộc đời Nguyễn Trãi bắt đầu bằng thảm kịch “nước mất nhà tan”. Chính “mối hận Nam Quan” đã nhen nhóm ngọn lửa của lòng yêu nước thương nòi trong tâm khảm Nguyễn Trãi để một ngày kia nó bùng cháy thành hoả diệm sơn đốt cháy quân giặc. Nung nấu chí vọng “đền nợ nước, báo thù nhà”, khi nghe tin Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Nguyễn Trãi bèn trốn khỏi Đông Quan tìm vào Thanh Hoá gặp Lê Lợi, dâng “Bình Ngô sách”, được Lê Lợi trọng dụng. Ông đã đồng cam cộng khổ với nghĩa quân Lam Sơn suốt mười năm kháng chiến, để rồi viết nên những câu văn chân thực nhất về hiện thực gian khổ khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mới bắt đầu:

Lại ngặt vì:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm,

Nhân tài như lá mùa thu,

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần,

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc”

“Khi Linh Sơn lương hết mấy tuần,

Lúc Khôi Huyện quân không một đội.”

Tuy gặp nhiều thiếu thốn, khó khăn nhưng tinh thần và lòng quyết tâm đã dâng cao như núi, tướng sĩ và nhân dân đều bền gan vững chí, chung sức chung lòng khắc phục gian nan, nhờ sự đoàn kết của toàn dân và chiến lược, chiến thuật đúng đắn, nghĩa quân biết dựa vào sức dân, được nhân dân đồng tình, ủng hộ đã phản công giành được thắng lợi to lớn. Rõ ràng nhận thức về vai trò, công sức của nhân dân đã được nâng lên một tầm cao chưa thấy trong lịch sử, phản ánh đúng đắn tinh thần của thời đại chống Minh. Ở đây, Nguyễn Trãi có cách miêu tả rất ngắn gọn nhưng vẫn làm nổi bật lên sự hoảng sợ, hoang mang của quân giặc ở hai trận đánh ác liệt xảy ra tại Bồ Đằng và Trà Lân, còn quân ta thì càng đánh càng mạnh, sĩ khí càng tăng cao:

 “Sĩ khí đã hăng

Quân Thanh càng mạnh

Trần Trí, Sơn Thọ nghe hơi mà mất vía,

Lí An, Phương Chinh nín thở cầu thoát thân.”

Với tư tưởng nhân nghĩa cao cả, “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn/ Lấy chí nhân để thay cường bạo” Nguyễn Trãi đã đưa ra một chân lý: phải giương cao ngọn cờ “nhân nghĩa, an dân”, phải cố gắng đoàn kết lòng dân làm sức mạnh của nước, làm thế nước. Để làm nổi bật giữa nhân nghĩa với hung tàn, giữa chính nghĩa với phi nghĩa, giữa chiến thắng và chiến bại,… Nguyễn Trãi đã sử dụng nghệ thuật đối lập, tương phản rất tài tình, đem đến nhiều niềm tin, lòng tự hào, sự hả hê cho người nghe, người đọc. Ta với giặc Minh khác nào như mặt trời với bóng tối, như văn minh với man rợ, như tất thắng với thất bại. Ông chủ trương cứu nước bằng sức mạnh của dân, muốn lấy lại được nước phải biết lấy sức dân mà kháng chiến. Sức mạnh nhân nghĩa của nhân dân ta “lấy yếu chống mạnh, lấy ít địch nhiều” đã làm nên chiến thắng vẻ vang đánh dấu những mốc son chói lọi trong trang vàng sử sách. Những thắng lợi ban đầu đã tạo thanh thế cho nghĩa quân, trở thành nỗi khiếp đảm của kẻ thù:

“Ninh Kiều máu chảy thành sông, tanh trôi vạn dặm

Tốt Động thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm.

Phúc âm quân giặc: Trần Hiệp đã phải bêu đầu.

Mọt gian kẻ thù: Lí Lượng cũng đành bỏ mạng.”

Thừa thắng xông lên, nghĩa quân liên tiếp giành thắng lợi tiêu diệt giặc ở các thành chúng chiếm đóng, tiêu diệt cả viện binh của giặc. Nguyễn Trãi tập trung bút lực kể về chiến dịch Chi Lăng – Xương Giang. Đây là bản hùng ca vang dội nhất của cuộc kháng chiến trường kì.

“Đinh Mùi tháng chín, Liễu Thăng đem binh từ Khâu Ôn kéo lại,

Năm ấy tháng mười, Mộc Thạch chia đường từ Vân Nam tiến sang.”

Nhưng ta đã có sự bố phòng chu đáo. Hai gọng kìm của giặc liên tiếp bị bẻ gãy:

“Ta trước điều bỉnh thủ hiểm, chặt mũi tên phong.

Sau lại sai tướng chặn đường, tuyệt nguồn lương thực.”

Sau đó là những chiến thắng dồn dập. Giọng văn hăm hở như có tiếng thúc giục chiến thắng của người viết, mạch văn dồn đuổi như cố theo kịp bước hành quân thần tốc và những đòn đánh cấp tập của nghĩa quân:

“Ngày mười tám, trận Chi Lăng, Liễu Thăng thất thế,

Ngày hai mươi, trận Mã Yên, Liễu Thăng cụt đầu.

Ngày hăm lăm, bá tước Lương Minh bại trận tử vong.

Ngày hai tám, Thượng thư Lí Khánh cùng kế tự vẫn.”

Câu văn đúc lại, ngắn gọn, đầy hình ảnh thâm xưng phóng đại nhằm cực tả sức mạnh vĩ đại, khí thế áp đảo của quân ta:

“Gươm mài đá, đá núi cũng mòn

Voi uống nước, nước sông phải cạn,

Đánh một trận, sạch không kình ngạc

Đánh hai trận, tan tác chim muông.”

Liệt kê những chiến công vang dội liên tiếp của quân dân ta cũng như tô đậm tư thế đê hèn của quân xâm lược lúc thảm bại bằng giọng văn hào hùng sảng khoái, Nguyễn Trãi vẫn nhằm mục đích khẳng định hùng hồn sức mạnh vô địch của tư tưởng nhân nghĩa và truyền thống nhân nghĩa tốt đẹp của dân tộc Việt. 

“Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới;

 Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào.”

Cả bản đại cáo là bài tráng ca, anh hùng ca về những chiến công hiển hách, vinh quang mà dân tộc đã chung sức, chung lòng làm nên được. Đúng là chỉ có chân lý độc lập tự do mới đem đến khí thế, khát vọng cháy bỏng như thế. Nguyễn Trãi hẳn đã chờ, chờ suốt bao nhiêu năm để tự mình viết lên những khoảnh khắc lịch sử chẳng bao giờ quên ấy. Để hơn một lần ông khẳng định chắc chắn cuộc chiến này, sự đồng khởi này là xuất phát từ chính nghĩa, từ tư tưởng nhân nghĩa đã trở thành đạo lý tốt đẹp từ bao đời của nhân dân Việt Nam ta. 

Tư tưởng nhân đạo với những hành động nhân nghĩa đã khiến quân và dân có sự đoàn kết, đồng lòng tạo thành sức mạnh to lớn tiêu diệt kẻ thù bởi tất cả mọi người đều cùng chung một mục đích chiến đấu. Khi đánh giặc, càng đánh càng hăng, khí thế ngập đất trời bởi trái tim luôn tràn trề tình yêu nước. Bởi thế nên quân ta mới đánh bại quân giặc. Lúc này, quân giặc hiện lên trong thật đáng thương, thảm hại:

 “Đô đốc Thôi Tụ lê gối dâng tờ tạ tội,

Thượng thư Hoàng Phúc trói tay để tự xin hàng.”

“Bị ta chặn ở Lê Hoa, quân Vân Nam nghi ngờ khiếp vía mà vỡ mật!

Nghe Thăng thua ở Cần Trạm, quân Mộc Thạnh xéo lên nhau chạy để thoát thân.”

“Cứu binh hai đạo tan tành, quay gót chẳng kịp,

Quân giặc các thành khốn đốn, cởi giáp ra hàng

Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng”

Tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi trong “Bình Ngô đại cáo” còn thể hiện ở việc đối đãi với kẻ thù. Nhân nghĩa thể hiện ở tinh thần chuộng hòa bình, tinh thần nhân đạo của dân tộc:

“Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng

Thần vũ chẳng giết hại, thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh

Mã Kỳ, Phương Chính, cấp cho năm trăm chiếc thuyền, ra đến biển mà vẫn hồn bay phách lạc,

Vương Thông, Mã Anh, phát cho vài nghìn cỗ ngựa, về đến nước mà vẫn tim đập chân run.

Họ đã tham sống sợ chết mà hoà hiếu thực lòng

Ta lấy toàn quân là hơn, để nhân dân nghỉ sức.

Chẳng những mưu kế kì diệu

Cũng là chưa thấy xưa nay”

Đến khi chiến thắng giặc Minh, một lần nữa, tư tưởng nhân nghĩa – tấm lòng thanh cao của Ức Trai càng cao vời vợi. Ông thương dân, mong muốn sớm yên bình cho quân dân nên ông đã lấy toàn dân là hơn, để nhân dân nghỉ sức. Tư tưởng nhân nghĩa trong suy nghĩ của Nguyễn Trãi là tinh thần yêu chuộng hòa bình, công lý, sự hiếu sinh, hiếu hòa, độ lượng bao dung. Dân tộc ta đã mở đường hiếu sinh cho kẻ thù khi chúng bại vong. Quân giặc đã “tham sống sợ chết”, ta cũng chẳng cạn tình. Quan điểm “lấy chí nhân để thay cường bạo” của Nguyễn Trãi chính là được biểu hiện ở đây. 

Đây là cách ứng xử vừa nhân đạo, vừa khôn khéo của nghĩa quân Lam Sơn, khẳng định tính chất chính nghĩa cuộc chiến của ta, vừa thể hiện truyền thống nhân đạo, nhân văn, chuộng hòa bình của dân tộc Đại Việt, vừa thể hiện tầm nhìn xa trông rộng để duy trì quan hệ ngoại giao sau chiến tranh của dân tộc ta với Trung Hoa.

Coi trọng con người, quý trọng nhân dân, coi trọng tình hòa hiếu giữa các dân tộc ông đã đặt nhân nghĩa lên trên tất cả. Trong tác phẩm Cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi, tư tưởng nhân nghĩa dường như hòa quyện trong từng lời từng ý, tỏa ra dưới ngòi bút sắc bén của ông. Nguyễn Trãi đã là một nhà thơ tư tưởng lớn biết chọn cho mình lí tưởng đẹp đẽ và cao quý như vậy. 

 Bài cáo kết thúc. Câu văn chuyển sang nhịp khoan thai, dàn trải, trang trọng. Giọng văn hiền hoà tươi vui:

Xã tắc từ đây vững bền

Giang sơn từ đây đổi mới

Càn khôn bĩ rồi lại thái

Nhật nguyệt hối rồi lại minh

Ngàn năm vết nhục nhã sạch làu

Muôn thuở nền thái bình vững chắc”

Các hình ảnh xã tắc, giang sơn, kiền khôn, nhật nguyệt cứ tăng dần về độ lớn có sức mạnh vũ trụ, dường như mới đủ đo được cảnh thái bình. Chân lý độc lập cứ thế mà vang xa, vang rộng mãi. Nhưng niềm vui không ồn ào bởi Nguyễn Trãi hiểu hơn ai hết cái giá đắt của chiến thắng, và cái ơn rất sâu của đồng bào, của trời đất tổ tông thiêng liêng đã đồng lòng giúp đỡ. Lời tuyên bố còn chứa đựng cả đạo lý uống nước nhớ nguồn. Bởi vậy mới nói, tác giả của bài cáo không chỉ tài năng trác việt mà đức độ cũng vô biên. Giá trị độc lập, chủ quyền của bản đại cáo được thiết lập bởi những tư tưởng nhân văn, truyền thống đạo lý gốc rễ như vậy. Từ đây dân tộc ta bước sang một trang mới – trang sử vàng của độc lập, tự do, hoà bình. Nhân nghĩa của Nguyễn Trãi là cần phải đấu tranh để cho dân tộc Việt Nam tồn tại và phát triển. Nhân nghĩa giống như là một phép lạ, làm cho “Càn khôn bĩ rồi lại thái” / “Nhật nguyệt hối rồi lại minh”.

Phạm Văn Đồng có nhận định rằng “Văn chương của Nguyễn Trãi đã đạt đến đỉnh cao của nghệ thuật, đều hay và đẹp lạ thường”. Bên cạnh giá trị nhân đạo sâu sắc, “Bình Ngô đại cáo” , một nét  đặc sắc nữa về nghệ thuật là lời văn giấụ hình tượng. “Bình Ngô đại cáo” có ngôn ngữ trang trọng, hình tượng tráng lệ, kì vĩ. Các thủ pháp nghệ thuật như so sánh, thậm xưng, cảm thán… được Nguyễn Trãi sử dụng rất đặc sắc gợi cảm kì lạ. Cáo là một trong những thể văn xuôi cổ; cách đặt câu mang tính quy phạm cổ điển. Nguyễn Trãi đã sử dụng biến hóa các kiểu câu tứ tự, bát tự, câu tứ lục, câu song quan, câu cách cú, câu gối hạc, làm cho nhịp văn lúc co ngắn, lúc duỗi dài, lúc nén xuống, lúc dồn dập. Khí văn mạnh mẽ, mang âm điệu anh hùng ca. 

Có khi là các thi liệu văn liệu cổ đi vào bài cáo một cách thanh thoát hấp dẫn như: cần trúc ngọn cờ, nước sông chén rượu, trúc chẻ tro bay, sạch không kình ngạc… Mở đầu là hai chữ “yên dân”, kết thúc là”thái bình”, “chiến thắng”, là “thanh bình”, là “duy tân” điểu đó đã thể hiện tính nhất khí, nhất quân của Bình Ngô đại cáo. Chỉ nói về phương diện nghệ thuật, Bình Ngô đại cáo xứng dáng là bài ca thắng trận, khúc hát hòa bình của ông cha lưu mãi ngàn thu. Trong tác phẩm này, tác giả đã kết hợp một cách uyển chuyển giữa tính chân xác lịch sử với chất sử thi anh hùng ca qua lối văn biền ngẫu mẫu mực của một ngọn bút tài hoa uyên thâm Hán học. 

Nguyễn Trãi từng nói: “Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên công to phải lấy nhân nghĩa làm đầu: duy nhân nghĩa có gồm đủ thì công việc mới thành công”. Từ xưa đến nay, chỉ những bậc đại nhân đại trí như Nguyễn Trãi mới chọn nhân nghĩa (hay chủ nghĩa nhân đạo) làm nền tảng cho sự nghiệp của mình. Nội dung tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi cơ bản là tinh thần yêu nước, trọng dân an dân, lòng khoan dung độ lượng kết hợp với ý chí hòa bình và xây dựng đất nước giàu mạnh.

“Thanh nam châm thu hút mọi thế hệ vẫn là cái cao thượng, cái đẹp và cái nhân đạo của lòng người.” (Xêlêkhốp). “Bình Ngô đại cáo” mãi là áng thiên cổ hùng văn, là bản tuyên ngôn về chủ quyền độc lập dân tộc, bản cáo trạng tội ác của kẻ thù, bản hùng ca về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn mà trong đó thanh nam châm thu hút mọi thế hệ chính là tư tưởng nhân nghĩa cao đẹp của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Xin được mượn lời của nhà thơ Xuân Diệu để thay cho lời kết: “Trước Lê Lợi, đã từng có chiến thắng oanh liệt đuổi sạch quân Nguyên xâm lược ở thời nhà Trần, sau thời Lê Lợi, sẽ có chiến thắng thần tốc của vua Quang Trung đánh đuổi 20 vạn quân Thanh xâm lược, nhưng trong văn học sử chỉ có một áng văn Bình Ngô đại cáo, bởi các lẽ: không có ba Nguyễn Trãi để viết ba áng văn khải hoàn mà lịch sử đòi hỏi ở ba thời điểm, mà chỉ có một Nguyễn Trãi cụ thể, hiệu Ức Trai, ở đầu triều Lê cùng với tài thao lược kinh bang tế thế, đã có cái thiên tài viết văn”.


Xem thêm:

“Bình Ngô Đại cáo” – Bản tuyên ngôn độc lập hùng hồn và đẫm nước mắt

Tham khảo các bài văn mẫu nâng cao tại chuyên mục: https://thichvanhoc.com.vn/van-mau/nang-cao/

Đón xem các bài viết mới nhất trên fanpage FB Thích Văn Học